Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân là một định chế hiến định xuyên suốt trong lịch sử lập hiến Việt Nam, được ghi nhận tại các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và tiếp tục được khẳng định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013. Thẩm quyền này được thể chế hóa chi tiết trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong tiến trình cải cách tư pháp theo các nghị quyết của Đảng, yêu cầu đặt ra đối với cơ quan tiến hành tố tụng là không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa.
Tuy nhiên, tác giả chỉ ra rằng thực tiễn thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Một bộ phận Kiểm sát viên chưa thực hiện tốt vai trò của bên buộc tội; kỹ năng tranh luận và chất lượng thực hành quyền công tố tại phiên tòa chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu cải cách tư pháp. Tình trạng Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, bản án bị cấp phúc thẩm hủy hoặc sửa do lỗi chủ quan vẫn còn phát sinh, làm ảnh hưởng đến quyền tự do, dân chủ của công dân. Tại thành phố Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của cả nước với số lượng án hình sự thụ lý hàng năm rất lớn – hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tuy đã có bước tiến bộ nhưng vẫn gặp những vướng mắc pháp lý và thực tiễn cần được luận giải, tổng kết một cách khoa học.
Từ bối cảnh nêu trên, khóa luận xác định mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
-
Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và đánh giá thực tiễn thi hành; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
- Phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
- Đánh giá thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại thành phố Hà Nội, xác định nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng công tác này.
-
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam điều chỉnh hoạt động này.
-
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (chủ yếu là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có đối chiếu với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) và quy định pháp luật của một số quốc gia (Nhật Bản, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa).
- Về không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: Thu thập số liệu, khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021.
Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp.
Về mặt lý thuyết, tác giả tổng hợp và phân loại các trường phái quan điểm khoa học pháp lý về khái niệm "quyền công tố" thành ba nhóm chính:
- Nhóm quan điểm thứ nhất: Đồng nhất quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, coi công tố chỉ là một quyền năng hoặc một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát chung.
- Nhóm quan điểm thứ hai: Thu hẹp nội hàm quyền công tố vào hoạt động truy tố và duy trì sự buộc tội của Nhà nước trước Tòa án sơ thẩm.
- Nhóm quan điểm thứ ba: Mở rộng phạm vi quyền công tố sang cả lĩnh vực phi hình sự (dân sự, kinh tế, hành chính) nhân danh việc bảo vệ lợi ích công.
Trên cơ sở khắc phục sự phiến diện của các quan điểm trên, nghiên cứu định vị quyền công tố gắn liền với pháp luật tố tụng hình sự, từ đó làm rõ khái niệm thực hành quyền công tố và định chế nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Về cơ sở pháp lý, công trình khai thác trực tiếp các văn bản pháp luật thực định gồm:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Điều 107);
- Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Điều 3);
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các Điều 4, 85, 157, 174, 232, 236, 238, 246, 262, 266, 268, 274, 276, 280, 285, 289, 298, 306, 307, 321, 336, 337, 345);
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (các Điều 168, 170, 179, 189, 206, 273);
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 16, Điều 29, Điều 91);
- Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP;
- Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự;
- Công văn số 328/NCPL ngày 22/6/1993 của Tòa án nhân dân tối cao;
- Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản (Điều 1, 8, 21, 36, 39, 49, 113-1, 142, 157, 191, 247, 256, 276, 291, 298-1, 301, 308, 309-1, 311, 312, 351);
- Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2012 (Điều 5, các Điều 181 đến 215) và Quy tắc tố tụng hình sự Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được sử dụng gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp tài liệu, phương pháp thống kê tư pháp và phương pháp so sánh luật học. Nguồn dữ liệu thực nghiệm được trích xuất từ Báo cáo số liệu điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2021 do Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát hành năm 2021.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận, phân tích khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý của quyền công tố và việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tác giả đưa ra định nghĩa: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm là hệ thống những hoạt động mà Viện kiểm sát phải thực hiện và được thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội đối với người phạm tội có căn cứ và hợp pháp.
Nghiên cứu khẳng định ba ý nghĩa cốt lõi của hoạt động này:
- Góp phần bảo đảm việc thực thi quyền lực nhà nước thông qua việc nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội.
- Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; sự hiện diện của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là điều kiện bắt buộc theo Điều 289 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án bắt buộc phải hoãn phiên tòa).
- Giúp Tòa án ban hành bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, từ đó bảo vệ quyền con người và hạn chế tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Phần luật so sánh phân tích hai mô hình tố tụng điển hình:
- Nhật Bản: Tiếp thu các yếu tố của mô hình tranh tụng. Trước khi mở phiên tòa, Công tố viên chỉ chuyển bản cáo trạng cho Tòa án mà không gửi kèm hồ sơ vụ án theo Điều 256 Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản, nhằm ngăn ngừa sự hình thành định kiến trước của Thẩm phán. Công tố viên nắm giữ độc quyền truy tố (Điều 247) và chịu trách nhiệm chứng minh tại phiên tòa. Bị cáo được pháp luật bảo đảm vị thế bình đẳng thông qua quyền có luật sư biện hộ và quyền giữ im lặng (Điều 301, Điều 311).
- Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Áp dụng mô hình thẩm vấn kết hợp tranh tụng. Viện kiểm sát là cơ quan tư pháp độc lập chịu sự giám sát của Đại hội Đại biểu nhân dân địa phương. Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên giữ vai trò chủ động công bố cáo trạng, thẩm vấn bị cáo, xét hỏi nhân chứng, công bố chứng cứ và tranh luận (các Điều 184 đến 203 Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc năm 2012), trong khi Hội đồng xét xử không đứng ra gánh vác trách nhiệm buộc tội chính mà giữ vai trò điều khiển và kiểm tra chứng cứ khi có nghi vấn.
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2 phân tích cơ cấu các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo tiến trình tố tụng xét xử sơ thẩm:
- Giai đoạn chuẩn bị xét xử: Viện kiểm sát thực hiện quyền rút quyết định truy tố (rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng theo điểm c khoản 1 Điều 266 và Điều 285) khi có căn cứ không khởi tố vụ án theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự, hoặc căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 16, Điều 29 và khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, Viện kiểm sát xử lý quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án (Điều 246, Điều 280), hoặc chủ động ra văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ để tiến hành điều tra bổ sung chứng cứ theo khoản 2 Điều 280.
- Tại phiên tòa sơ thẩm: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát được quy định tập trung tại Điều 266. Kiểm sát viên tiến hành công bố cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung không làm xấu đi tình trạng của bị cáo (Điều 306); bắt buộc tham gia xét hỏi sau khi Hội đồng xét xử đã hỏi (Điều 307); trình bày lời luận tội và đối đáp tranh luận (Điều 321).
- Giai đoạn sau phiên tòa: Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày (cùng cấp) hoặc 30 ngày (cấp trên trực tiếp); kháng nghị quyết định sơ thẩm trong thời hạn 07 ngày (cùng cấp) hoặc 15 ngày (cấp trên trực tiếp) theo Điều 337.
Tác giả tổng hợp 8 điểm mới tiến bộ của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 so với Bộ luật năm 2003:
- Bổ sung giải thích cụ thể thuật ngữ "Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" tại điểm o khoản 1 Điều 4.
- Quy định rõ 4 căn cứ Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung tại khoản 1 Điều 280 và bổ sung Điều 246 hướng dẫn trình tự Viện kiểm sát xử lý hồ sơ bị trả.
- Xây dựng điều luật riêng quy định toàn diện về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm (Điều 266).
- Quy định rõ phạm vi ý kiến bổ sung của Kiểm sát viên sau khi đọc cáo trạng không được làm xấu đi tình trạng bị cáo (Điều 306).
- Không giới hạn số lượng tối đa Kiểm sát viên tham gia các phiên tòa vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng (Điều 289 bãi bỏ mức khống chế 02 Kiểm sát viên tại Điều 189 luật cũ).
- Hợp nhất thủ tục xét hỏi và tranh luận thành "Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa" (Mục 5 Chương XXI) và sửa đổi quy định phân công thứ tự xét hỏi tại Điều 307.
- Bổ sung điều luật độc lập về Luận tội của Kiểm sát viên tại Điều 321.
- Bổ sung quy định Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp trong thời hạn 10 ngày (Điều 262).
Đồng thời, chương này chỉ ra 5 vướng mắc, bất cập chưa được giải quyết dứt điểm:
- Thiếu sót và mâu thuẫn trong thẩm quyền kết luận tội danh: Điều 266 chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn tại và sau phiên tòa, bỏ sót thời điểm trước phiên tòa. Điểm c khoản 1 Điều 266 cho phép "kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn", nhưng khoản 3 Điều 321 lại giới hạn "kết luận về tội nhẹ hơn", còn Điều 25 Quy chế 505 lại quy định được "kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn trong cùng một điều luật".
- Quy định khống chế số lần trả hồ sơ điều tra bổ sung: Khoản 2 Điều 174 khống chế Thẩm phán chỉ được trả hồ sơ 1 lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả 1 lần. Khi phát sinh chứng cứ mới quan trọng sau lần điều tra bổ sung thứ nhất, Tòa án không thể tiếp tục trả hồ sơ, dẫn đến nguy cơ giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện.
- Bất cập về thứ tự xét hỏi: Điều 307 quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hỏi trước và hỏi chính, khiến Tòa án làm thay chức năng làm rõ chứng cứ buộc tội của Kiểm sát viên, làm mờ nhạt vai trò của Viện kiểm sát và suy giảm tính trung lập của cơ quan xét xử.
- Xung đột thẩm quyền xét xử sơ thẩm: Khoản 3 Điều 298 cho phép Tòa án xét xử tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố nếu Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm. Quy định này dẫn đến khả năng Tòa án cấp huyện xét xử chuyển loại tội sang tội đặc biệt nghiêm trọng – loại tội vượt quá thẩm quyền xét xử của cấp huyện theo Điều 268, nhưng luật chưa có điều khoản xử lý việc chuyển vụ án theo Điều 274.
- Hạn chế trong cơ chế kháng nghị: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có điều luật quy định căn cứ kháng nghị phúc thẩm; thời hạn Tòa án giao bản án sơ thẩm (10 ngày) khiến Viện kiểm sát cùng cấp chỉ còn 5 ngày nghiên cứu kháng nghị; luật thiếu quy định về thời hạn Tòa án phải gửi quyết định sơ thẩm cho Viện kiểm sát.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và giải pháp đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội
Về tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 01/QĐ ngày 31/12/1960. Sau khi hợp nhất địa giới hành chính theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội, cơ cấu tổ chức gồm 45 đơn vị (30 Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện, thị xã và 15 phòng nghiệp vụ).
Về số liệu thụ lý và xét xử trong 6 năm (2016 – 2021):
- Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội thụ lý sơ thẩm 40.644 bị cáo.
- Viện kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm 38.923 bị cáo (đạt tỷ lệ 95,69% tổng số bị cáo thụ lý).
- Tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử 280 vụ / 423 bị cáo; tạm đình chỉ xét xử 58 vụ / 114 bị cáo.
- Tổng số bị cáo do Viện kiểm sát truy tố là 38.519 bị cáo. So sánh với số lượng đưa ra xét xử sơ thẩm (38.923 bị cáo bao gồm cả số tồn đọng từ kỳ trước), tỷ lệ đưa ra xét xử sơ thẩm đạt 99,8% số vụ án và 99,09% số bị cáo.
- Bình quân mỗi năm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát hai cấp thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa sơ thẩm, công bố cáo trạng và trình bày luận tội đối với 6.419 vụ / 10.820 bị cáo.
| Tiêu chí thống kê |
Tổng số (2016 - 2021) |
Bình quân năm |
| Số bị cáo Tòa án thụ lý sơ thẩm |
40.644 bị cáo |
- |
| Số bị cáo Viện kiểm sát THQCT và KSXX sơ thẩm |
38.923 bị cáo (chiếm 95,69%) |
10.820 bị cáo |
| Số vụ án Tòa án đưa ra xét xử sơ thẩm |
- |
6.419 vụ |
| Số bị cáo Viện kiểm sát đã truy tố |
38.519 bị cáo |
- |
| Đình chỉ xét xử |
280 vụ / 423 bị cáo |
- |
| Tạm đình chỉ xét xử |
58 vụ / 114 bị cáo |
- |
| Tỷ lệ vụ án đưa ra xét xử sơ thẩm so với truy tố |
99,8% |
- |
| Tỷ lệ bị cáo đưa ra xét xử sơ thẩm so với truy tố |
99,09% |
- |
Trong giai đoạn này, ngành kiểm sát Thủ đô đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, điển hình như: vụ án Nguyễn Đức Kiên cùng đồng phạm (truy tố về các tội Kinh doanh trái phép, Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Trốn thuế, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản); vụ án mua bán trái phép chất ma túy do Đỗ Tuấn Anh thực hiện; các vụ án thuộc diện theo dõi của Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Thành ủy và các vụ án phát sinh trong công tác phòng, chống dịch COVID-19 năm 2021. Đồng thời, việc thi hành Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP đã giúp kiểm soát chặt chẽ và giảm dần tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung.
Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất tập trung vào hai nhóm:
- Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự: Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vào Điều 266; thống nhất quy định về hướng kết luận tội danh tại Điều 266, Điều 321 và Quy chế 505; sửa đổi Điều 307 theo hướng để Kiểm sát viên xét hỏi trước Hội đồng xét xử; bổ sung cơ chế xử lý chuyển vụ án khi Tòa án xét xử tội danh nặng hơn vượt thẩm quyền sơ thẩm tại Điều 298; luật hóa căn cứ kháng nghị phúc thẩm và quy định bắt buộc thời hạn Tòa án chuyển giao quyết định sơ thẩm cho Viện kiểm sát.
- Giải pháp thực thi: Tăng cường kỹ năng tranh tụng cho đội ngũ Kiểm sát viên; chuẩn bị kỹ đề cương xét hỏi và dự thảo bản luận tội; củng cố công tác phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án hai cấp.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể và đóng góp khoa học sau:
- Hệ thống hóa lý luận: Phân loại rõ ràng ba trường phái học thuật về quyền công tố; chuẩn hóa khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và làm rõ ba ý nghĩa trụ cột về quyền lực nhà nước, nguyên tắc tranh tụng và bảo vệ quyền con người.
- Phân tích luật so sánh: Cung cấp luận cứ so sánh thông qua việc nghiên cứu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản (nguyên tắc không gửi hồ sơ trước phiên tòa, độc quyền truy tố của Công tố viên) và Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc năm 2012 (vai trò chủ động của Kiểm sát viên trong mô hình tố tụng thẩm vấn kết hợp tranh tụng).
- Đánh giá quy định pháp luật thực định: Chỉ ra 8 sửa đổi tiến bộ mang tính lập pháp của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 so với năm 2003; đồng thời bóc tách 5 điểm nghẽn pháp lý thực tế (mâu thuẫn hướng kết luận tội danh, hạn chế số lần trả hồ sơ tại Điều 174, thứ tự xét hỏi tại Điều 307, nguy cơ vượt thẩm quyền tại Điều 298, và các bất cập về thời hạn, căn cứ kháng nghị).
- Đóng góp thực tiễn: Tổng hợp và phân tích toàn diện bức tranh số liệu xét xử sơ thẩm tại địa bàn trọng điểm Hà Nội giai đoạn 2016 – 2021 với quy mô 38.923 bị cáo được Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, minh chứng cho tính hiệu quả cũng như những khó khăn của công tác công tố tại phiên tòa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số giới hạn nghiên cứu được xác định từ phạm vi tài liệu:
- Về phạm vi thực nghiệm: Số liệu phân tích thực tế chỉ giới hạn trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2016 – 2021; chưa có điều kiện khảo sát, thu thập dữ liệu so sánh trên phạm vi các địa phương khác có tính chất địa bàn và cơ cấu tội phạm đặc thù.
- Về hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến các vướng mắc của Điều 266, Điều 298, Điều 307; mở rộng khảo sát kỹ năng tranh tụng của Kiểm sát viên đối với các nhóm tội phạm công nghệ cao và các vụ án kinh tế phức tạp phát sinh sau năm 2021.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và mục đích sau:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Luật: Cung cấp tài liệu nghiên cứu chuyên sâu cho môn học Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luật So sánh và chuyên đề Cải cách tư pháp; đặc biệt hữu ích cho việc xây dựng đề cương luận văn về chế định quyền công tố.
- Cán bộ thực tiễn (Kiểm sát viên, Thư ký, Thẩm phán, Luật sư): Cung cấp các phân tích đối chiếu điều luật chi tiết giữa Bộ luật năm 2003 và năm 2015; các hướng dẫn xử lý hồ sơ trả điều tra bổ sung theo Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP và Quy chế số 505/QĐ-VKSTC.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống phân tích 5 bất cập chưa được khắc phục của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tại Chương 2 và Bảng số liệu tổng hợp công tác thực hành quyền công tố tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Quyền rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm được thực hiện dựa trên các căn cứ nào?
Căn cứ theo Điều 285 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Viện kiểm sát có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố khi có các căn cứ:
- Có một trong các căn cứ không khởi tố vụ án quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (ví dụ: hành vi không cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự).
- Người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 do có sự chuyển biến của tình hình tội phạm hoặc chính sách pháp luật.
- Người dưới 18 tuổi phạm tội đáp ứng các điều kiện miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015.
2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã khắc phục hạn chế về số lượng Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm so với luật năm 2003 như thế nào?
Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trước đây giới hạn tối đa không quá 02 Kiểm sát viên được tham gia phiên tòa sơ thẩm, gây khó khăn cho việc duy trì tranh tụng tại các phiên tòa có đông bị cáo và nhiều luật sư bào chữa. Khắc phục hạn chế này, Điều 289 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: đối với những vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên tham gia thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, không còn bị khống chế mức trần 02 người.
3. Tác giả đã chỉ ra bất cập gì về trình tự xét hỏi tại Điều 307 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015?
Điều 307 quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người điều hành và trực tiếp hỏi trước, hỏi chính, sau đó mới đến lượt Hội thẩm, Kiểm sát viên và những người khác. Tác giả đánh giá quy định này khiến Tòa án vô hình trung làm thay nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong việc làm rõ chứng cứ buộc tội, làm mất đi vị thế trọng tài trung lập của Hội đồng xét xử và làm mờ nhạt vai trò công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
4. Trong giai đoạn 2016 – 2021, Viện kiểm sát hai cấp thành phố Hà Nội đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm bao nhiêu bị cáo?
Theo số liệu từ Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm đối với 38.923 bị cáo trên tổng số 40.644 bị cáo mà Tòa án sơ thẩm đã thụ lý (đạt tỷ lệ 95,69%).
5. Điểm xung đột pháp lý về giới hạn xét xử sơ thẩm tại khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là gì?
Khoản 3 Điều 298 cho phép Tòa án xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố nếu Tòa án đã trả hồ sơ mà Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm. Bất cập phát sinh khi Tòa án cấp huyện xét xử và xác định tội danh nặng hơn đó lại thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng – loại tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điều 268. Trường hợp này vượt quá thẩm quyền cấp huyện, nhưng Điều 298 chưa có quy định hướng dẫn giải quyết việc chuyển vụ án theo Điều 274.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Khánh Linh đã giải quyết một cách toàn diện cả về mặt lý luận, lập pháp và thực tiễn thi hành nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối chiếu với Bộ luật năm 2003 và luật pháp quốc tế, công trình đã làm nổi bật 8 bước tiến cùng 5 điểm nghẽn pháp lý cần tiếp tục tháo gỡ. Đồng thời, nguồn số liệu thực chứng giai đoạn 2016 – 2021 tại thành phố Hà Nội là cơ sở thực tế có giá trị phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu học thuật và kiến nghị hoàn thiện thể chế tố tụng hình sự Việt Nam.