Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp và tố tụng dân sự Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân giữ vai trò đặc thù với tư cách là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Khác với quy định trong tố tụng hình sự, pháp luật tố tụng dân sự không quy định mọi phiên tòa sơ thẩm đều phải có sự tham gia của Kiểm sát viên mà giới hạn trong bốn nhóm trường hợp có tính chất phức tạp, liên quan đến lợi ích công cộng, quyền quản lý của Nhà nước hoặc bảo vệ các nhóm chủ thể yếu thế.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016) ra đời nhằm khắc phục những bất cập của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, thể chế hóa các mục tiêu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị. Để triển khai hiệu quả các quy định này, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 28 tháng 12 năm 2018, Kế hoạch số 01/KH-VKSTC ngày 01 tháng 01 năm 2019 và Hướng dẫn số 03/HD-VKSTC ngày 07 tháng 01 năm 2019, nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm là nâng cao chất lượng bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Tuy nhiên, việc áp dụng trên thực tế vẫn phát sinh nhiều vướng mắc về thẩm quyền, kỹ năng nghiệp vụ và cơ chế phối hợp liên ngành.

Đề tài xác định mục đích nghiên cứu là làm rõ các vấn đề lý luận và quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự; đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra tồn tại, nguyên nhân, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát. Để đạt được mục đích trên, khóa luận triển khai năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận chung về nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự.
  2. Phân tích nội dung các quy định pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn và trình tự hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động thực tế của Kiểm sát viên khi tham gia kiểm sát phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự.
  4. Xác định các khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn và phân tích nguyên nhân của những tồn tại đó.
  5. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật và nâng cao kỹ năng nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
  • Đối tượng nghiên cứu: Nhiệm vụ, quyền hạn và các hoạt động của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự, cùng với hệ thống kỹ năng nghiệp vụ để thực hiện các hoạt động đó.
  • Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tại các phiên tòa sơ thẩm từ năm 2015 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về chiến lược cải cách tư pháp. Về mặt pháp lý, đề tài vận dụng các quy phạm tại Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31 tháng 8 năm 2016 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao, cùng Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự ban hành kèm theo Quyết định số 364/QĐ-VKSTC ngày 02 tháng 10 năm 2017 và Quyết định số 204/QĐ-VKSTC về biểu mẫu tố tụng.

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích từng điều luật, thuật ngữ tố tụng và tổng hợp các luận điểm lý luận để làm rõ bản chất quyền tư pháp và hoạt động kiểm sát.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử (trước 1989, 1989–2004, 2004–2014, 2015 đến nay) nhằm chỉ ra sự dịch chuyển trong phạm vi tham gia của Viện kiểm sát.
  • Phương pháp thống kê, đánh giá thực tiễn: Tiếp cận số liệu, báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử sơ thẩm để nhận diện các bất cập, vi phạm thủ tục tố tụng.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, hướng dẫn nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các giáo trình luật học, tài liệu từ các công trình nghiên cứu đã công bố (TS. Bùi Thị Huyền, Kiểm sát viên Bùi Văn Kim, TS. Khuất Văn Nga, Vụ trưởng Lê Thành Dương) và báo cáo thực tiễn áp dụng pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Kiểm sát viên khi tham gia kiểm sát phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự

Chương 1 tập trung làm sáng tỏ hệ thống khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và lược sử hình thành các quy định pháp luật liên quan. Khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sự được xác định là phiên họp công khai lần đầu của Tòa án với sự tham gia của các đương sự theo trình tự tố tụng chặt chẽ để ra phán quyết giải quyết vụ việc. Nhiệm vụ của Kiểm sát viên là nhóm công việc bắt buộc phải làm theo luật định; quyền hạn là phạm vi các quyền được pháp luật cho phép thực hiện; còn hoạt động là quá trình triển khai các nhiệm vụ, quyền hạn đó từ giai đoạn thụ lý trước phiên tòa, trong phiên tòa và sau khi phiên tòa kết thúc.

Nghiên cứu chỉ rõ hoạt động của Kiểm sát viên có các đặc điểm:

  1. Gắn liền với chủ thể có thẩm quyền là Kiểm sát viên đã được Viện trưởng phân công bằng văn bản cụ thể.
  2. Được biểu hiện tuần tự qua ba giai đoạn độc lập nhưng liên kết chặt chẽ (trước, tại và sau phiên tòa).
  3. Bị giới hạn nghiêm ngặt bởi phạm vi thời gian và thẩm quyền pháp định, không được can thiệp vào thẩm quyền xét xử độc lập của Hội đồng xét xử.

Về ý nghĩa, sự tham gia của Kiểm sát viên vừa đảm bảo tính nghiêm minh, trật tự tố tụng của Tòa án, vừa thiết lập cơ chế bảo vệ khách quan, "miễn phí" cho quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đặc biệt trong bối cảnh trình độ dân trí và khả năng tiếp cận luật sư còn hạn chế.

Giai đoạn lịch sử Văn bản điều chỉnh chủ yếu Phạm vi và hình thức tham gia của Viện kiểm sát (Công tố)
Giai đoạn trước 1989 (1945–1959 và 1960–1988) Sắc lệnh số 13/SL (1946), Sắc lệnh 51/SL (1946), Sắc lệnh 85/SL (1950), Luật Tổ chức VKSND năm 1960. Công tố viên tham gia các phiên tòa hộ (dân sự); Sắc lệnh 85/SL mở rộng quyền kháng cáo về việc hộ; Luật năm 1960 quy định VKS khởi tố hoặc tham gia các vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích nhà nước và nhân dân.
Giai đoạn 1989–2004 Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức VKSND năm 1992 và năm 2002. Luật năm 1992 quy định hai hình thức: bắt buộc (vụ án VKS khởi tố) và không bắt buộc (tham gia khi thấy cần thiết). Đến Luật năm 2002 (Điều 21), Viện kiểm sát phải tham gia 100% các phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Giai đoạn 2004–2014 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Thu hẹp phạm vi: Viện kiểm sát chỉ tham gia các phiên tòa mà Tòa án thu thập chứng cứ có khiếu nại của đương sự, các việc dân sự và các vụ việc có kháng nghị.
Giai đoạn 2015 đến nay Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Mở rộng hợp lý phạm vi kiểm sát vào 4 nhóm vụ án luật định tại Điều 21; quy định Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử (không hoãn), trừ vụ việc có kháng nghị phúc thẩm.

Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành về nhiệm, quyền hạn và hoạt động của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự

Chương 2 phân tích cụ thể các điều kiện, quyền hạn và thao tác tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn:

Bốn trường hợp Viện kiểm sát bắt buộc tham gia phiên tòa sơ thẩm (Điều 21):

  1. Vụ án do Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo các biện pháp quy định từ Điều 97 đến Điều 106.
  2. Vụ án có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất hoặc nhà ở (hướng dẫn cụ thể tại Điều 27 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC).
  3. Vụ án có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  4. Trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vì lý do chưa có điều luật để áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 4.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • Kiểm tra thành phần và tư cách tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng (Điều 52, 53, 54, 68, 75, 77, 79, 81).
  • Thực hiện quyền đề nghị hoãn phiên tòa khi có căn cứ luật định (Điều 56, 62, 84, 227–232, 241).
  • Kiểm sát trình tự tranh tụng (Điều 247 đến Điều 261).
  • Trực tiếp đặt câu hỏi sau khi Hội đồng xét xử và đương sự đã hỏi xong (khoản 1 Điều 249, Điều 274).
  • Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án (Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 28 Thông tư liên tịch số 02/2016); chuyển văn bản phát biểu cho Tòa án lưu hồ sơ.
  • Kiểm sát việc nghị án và tuyên án (Điều 264, 266, 267).

Quy trình hoạt động ba giai đoạn của Kiểm sát viên:

  • Giai đoạn trước phiên tòa: Nghiên cứu hồ sơ vụ án trong thời hạn tối đa 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ (Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 4 Thông tư liên tịch số 02/2016); kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu; lập hồ sơ kiểm sát theo Điều 12 Quy chế số 364/QĐ-VKSTC; soạn thảo báo cáo kết quả nghiên cứu và đề xuất đường lối xử lý xin ý kiến lãnh đạo Viện; chuẩn bị đề cương hỏi, dự thảo bài phát biểu (theo Mẫu số 24 ban hành kèm Quyết định số 204/QĐ-VKSTC) và dự kiến tình huống phát sinh.
  • Giai đoạn tại phiên tòa: Kiểm sát việc mở đầu phiên tòa, kiểm tra căn cước; giám sát việc chấp nhận hoặc từ chối chứng cứ mới giao nộp theo khoản 4 Điều 96; kiểm sát thủ tục rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu (Điều 245); tham gia xét hỏi nghiêm túc, không trùng lặp; trình bày bài phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát.
  • Giai đoạn sau phiên tòa: Kiểm tra biên bản phiên tòa; báo cáo lãnh đạo kết quả xét xử sơ thẩm; kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án để kịp thời phát hiện vi phạm và thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị theo quy định.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động động của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự

Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

  • Kết quả đạt được: Tỷ lệ tham gia các phiên tòa theo quy định đạt hiệu quả cao, hạn chế tình trạng vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng, chất lượng bài phát biểu và tính độc lập của Kiểm sát viên được nâng lên rõ rệt, góp phần giảm tỷ lệ bản án bị hủy, sửa do lỗi tố tụng.
  • Hạn chế, vướng mắc: Kỹ năng hỏi và tranh tụng của một bộ phận Kiểm sát viên còn mang tính hình thức; bài phát biểu tại một số phiên tòa còn chung chung, chưa phân tích thấu đáo nội dung tranh chấp phức tạp về đất đai; việc bàn giao hồ sơ từ Tòa án cho Viện kiểm sát đôi khi chậm trễ, ảnh hưởng đến thời hạn nghiên cứu 15 ngày.
  • Nguyên nhân: Khối lượng án dân sự tăng nhanh trong khi biên chế Kiểm sát viên còn thiếu; một số quy định giữa Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn còn có cách hiểu chưa thống nhất; công tác phối hợp liên ngành có thời điểm chưa đồng bộ.
  • Giải pháp và kiến nghị: Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn cụ thể về tiêu chí phân loại tranh chấp hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất; tăng cường tập huấn chuyên sâu về kỹ năng phản xạ tranh tụng và lập bài phát biểu; siết chặt kỷ luật giao nhận hồ sơ giữa Tòa án và Viện kiểm sát; đầu tư cơ sở vật chất và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ kiểm sát.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và luận giải hệ thống các căn cứ pháp lý và thực tiễn liên quan đến chế định kiểm sát phiên tòa dân sự sơ thẩm:

  • Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, Quy chế số 364/QĐ-VKSTC và Quyết định số 204/QĐ-VKSTC thành quy trình nghiệp vụ rõ ràng qua ba giai đoạn (trước, tại và sau phiên tòa).
  • Phân tích chi tiết bốn trường hợp bắt buộc Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, làm rõ ranh giới giữa việc tranh chấp hợp đồng có đối tượng là quyền sử dụng đất, nhà ở với các hợp đồng chỉ liên quan đến tài sản thế chấp.
  • So với các công trình nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu của TS. Bùi Thị Huyền năm 2011 thiên về lý luận chung, bài viết của KSV Bùi Văn Kim năm 2016 hay Vụ trưởng Lê Thành Dương năm 2016 tập trung chủ yếu vào kỹ năng phát biểu), khóa luận này có điểm mới là tiếp cận trực tiếp dưới góc độ thao tác thực tiễn và kỹ năng toàn diện của Kiểm sát viên trong chuỗi hoạt động từ khâu nghiên cứu hồ sơ 15 ngày, lập hồ sơ kiểm sát, kiểm tra chứng cứ đến thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị sau phiên tòa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi dữ liệu thực tiễn của đề tài chỉ tập trung khảo sát các vụ án dân sự sơ thẩm trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, chưa mở rộng phân tích chuyên sâu đối với các phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, phá sản hoặc lao động có yếu tố nước ngoài; đồng thời thiếu các số liệu thống kê chi tiết theo vùng địa lý hành chính cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm sát ở cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm trong mối liên hệ với giai đoạn sơ thẩm; xây dựng bộ tiêu chí định lượng đánh giá chất lượng bài phát biểu và tính hiệu quả của các bản kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, cũng như các Kiểm tra viên, Kiểm sát viên mới được bổ nhiệm. Trong đó, nội dung đáng chú ý nhất là phần phân tích kỹ năng nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 15 ngày, phương pháp lập đề cương xét hỏi và cấu trúc chuẩn của bài phát biểu theo Mẫu số 24 quy định tại Quyết định số 204/QĐ-VKSTC.

Câu hỏi thường gặp

1. Viện kiểm sát có bắt buộc phải tham gia tất cả các phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự không?
Không. Theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát chỉ tham gia bốn trường hợp cụ thể: vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ; vụ án có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở; vụ án có đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất/tâm thần hoặc khó khăn trong nhận thức; và trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vì chưa có điều luật áp dụng.

2. Hậu quả pháp lý khi Kiểm sát viên được phân công vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm là gì?
Căn cứ khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trường hợp Kiểm sát viên được phân công vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc xét xử, không hoãn phiên tòa (trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm). Quy định này khác biệt căn bản so với quy định hoãn phiên tòa bắt buộc tại Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.

3. Thời hạn tối đa để Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm trước phiên tòa là bao lâu?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, thời gian dành cho Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ vụ án tối đa là 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Tòa án chuyển giao.

4. Bài phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm dân sự gồm những nội dung bắt buộc nào?
Theo Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Mẫu số 24 (Quyết định số 204/QĐ-VKSTC), bài phát biểu gồm hai phần chính: nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án; và quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết nội dung vụ án. Ngay sau khi phiên tòa kết thúc, bản phát biểu phải được gửi cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ việc.

5. Điểm khác nhau giữa tranh chấp có đối tượng là quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất khi xác định thẩm quyền tham gia của Viện kiểm sát là gì?
Viện kiểm sát chỉ tham gia khi quyền sử dụng đất chính là đối tượng trực tiếp của hợp đồng tranh chấp (ví dụ: hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất). Nếu quyền sử dụng đất chỉ là tài sản bảo đảm trong một giao dịch khác (ví dụ: hợp đồng vay tài sản có thế chấp quyền sử dụng đất) mà không có tranh chấp về tính hợp pháp của tài sản thế chấp đó thì không thuộc trường hợp Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia theo căn cứ này.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa và phân tích sâu sắc các cơ sở lý luận, lịch sử và thực tiễn pháp lý về thẩm quyền, nhiệm vụ của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nghiên cứu chỉ rõ các thao tác nghiệp vụ cần thiết qua ba giai đoạn trước, tại và sau phiên tòa, đồng thời nhận diện chính xác những tồn tại về kỹ năng phát biểu và cơ chế phối hợp tố tụng. Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất mang tính đồng bộ, có giá trị đóng góp thiết thực cho công tác nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp theo yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.