CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE NHIỆM VỤ, QUYEN HAN CUA VIEN KIEM SAT KHI KIEM SAT DIEU TRA 1. Một số van dé lí luận về nhiệm vu, quyền han của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra 1. Khái quát chung về giai đoạn điều tra vụ án hình sự Pháp luật t6 tụng hình sự Việt Nam từ trước tới nay chưa bao giờ ghi nhận định nghĩa pháp lý khái niệm giai đoạn TTHS. Tuy nhiên, BLTTHS 1988 va BLTTHS 2003 đã thê hiện sự phân chia các giai đoạn tô tụng một cách rõ nét, theo đó quá trình giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Tương ứng với đó, mỗi giai đoạn có nhiệm vụ, chủ thể, trình tự, thủ tục, thời hạn cụ thể nhằm phục vụ mục đích chung của toàn bộ quá trình tố tụng. Bên cạnh đó, trên phương diện khoa học luật TTHS, căn cứ vào cơ quan và người tiễn hành tố tụng, các nhà nghiên cứu cũng chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành bản án và quyết định của Toà án. Như vậy, có thể thấy cả trên phương diện lý luận cũng như quy định của pháp luật, điều tra được coi là một giai đoạn tố tụng độc lập. và phạm vi giai đoạn điều tra VAHS, hiện nay vẫn tôn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Có quan điểm cho răng, “Điều tra là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiễn hành tố tụng hình sự, trong đó CQDT áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội” [17, tr. Quan điểm khác lại cho rằng, “phạm vi của kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi VAHS được khởi tố (một số trường hợp có thê được tiến hành trước khi khởi tố) và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định việc truy t6 hoặc không truy tố kẻ phạm tội ra toà, hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.91] Có thé thấy, hai quan điểm trên hoặc coi giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra VAHS là một giai đoạn tô tụng độc lập, hoặc coi giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tô là một giai đoạn tố tụng độc lập mà đã không thấy được sự khác nhau về mục đích, nhiệm vụ, chủ thê và trình tự, thủ tục THTT trong từng giai đoạn. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng: “Điều tra VAHS là một giai đoạn của quá trình TTHS do Co quan có thẩm quyên điều tra VAHS tiến hành nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm. Giai đoạn điều tra là giai đoạn tiếp theo sau của giai đoạn khởi tô được tiễn hành trên cơ sở QDKT của cơ quan Nhà nước có thâm quyền.
Giai đoạn điều tra được bắt đầu từ khi có QDKT và kết thúc khi CQDT hoàn thành bản kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố người phạm tội ra trước Toà án hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra” [3, tr. Theo quan diém nay thi điều tra là một giai đoạn tố tụng độc lập, có thời điểm bắt đầu từ khi co quan có thâm quyền ra QDKT vụ án và kết thúc khi CQDT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy t6 hoặc kết luận kèm theo quyết định đình chỉ điều tra. Trong giai đoạn này CQDT căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cô các chứng cứ; nghiên cứu các tình tiết của VAHS, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm dé truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Dinh chỉ điều tra VAHS hoặc là chuyền toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can [1]. Trong quá trình giải quyết vụ án, giai đoạn điều tra có vai trò hết sức quan trọng.
Bởi lẽ, điều tra VAHS là giai đoạn thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, xác định tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Kết quả điều tra vừa là cơ sở dé VKS quyết định truy tố, vừa là cơ sở để Toà án đưa vụ án ra xét xử. Tác động của kết quả điều tra đối với công tác truy tô, xét xử không chỉ thé hiện ở số lượng, chất lượng chứng cứ mà còn là nhận định, đánh giá tội phạm, áp dụng pháp luật hình sự của CQDT. Trong TTHS thâm van, vị trí của hoạt động điều tra càng quan trọng, những sai lầm nghiêm trọng làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm trong lịch sử tư pháp nước ta chủ yếu bắt nguồn từ giai đoạn điều tra [29, tr.
Do đó, giai đoạn điều tra có nhiệm vụ xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; xác định thiệt hai do tội phạm gây ra, tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án; lập hồ sơ, đề nghị truy tố bị can; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tô chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Đề thực hiện những nhiệm vụ này, trong giai đoạn điều tra, CQDT được tiễn hành các hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS nhằm thu thập chứng cứ. VKS thực hành quyền công tổ và KSĐT bảo đảm mọi hoạt động điều tra đúng pháp luật. Chính vì vậy, việc quy định cụ thê nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi KSĐT trong BLTTHS là hết sức cần thiết và mang một ý nghĩa rất lớn trong quá trình giải quyết VAHS nhằm đảm bảo việc điều tra VAHS khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật.
Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra Cơ quan nhà nước là một tô chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tô chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật dé thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước [33, tr. Như vậy, mỗi cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền nhất định do Nhà nước quy định, đó là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà Nhà nước trao cho để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước. Mỗi cơ quan Nhà nước chỉ hoạt động trong phạm vi thâm quyền của mình và trong phạm vi đó, nó hoạt động độc lập, chủ động và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Do vậy, Nhiệm vụ, quyên hạn của các cơ quan Nhà nước là tổng thé các quyên và nghĩa vụ pháp ly do Nhà nước trao cho các cơ quan Nhà nước và được quy định bởi pháp luật, nhằm nhân danh Nhà nước giải quyết những vấn dé trong quan hệ giữa Nhà nước với công dan [18, tr.
Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 đều quy định VKS có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính — kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội (sửa đổi, bố sung Hiến pháp 1992) đã đánh dấu sự thay đổi lớn nhất về chức năng của VKS kế từ khi ra đời đến nay, trong đó chức năng của VKS được điều chỉnh theo hướng đề cao chức năng công tô so với giai đoạn trước đây va thu hẹp phạm vi chức năng kiêm sat việc tuân theo pháp luật bằng kiểm sát các hoạt động tư pháp [13, tr. Theo quy định tại điều 137 Hiến pháp (sửa đổi, bố sung năm 2001) và Điều 1 Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì Viện kiểm sát có chức năng “Thực hành quyên công tô và kiểm sát các hoạt động tr pháp”. Về kiểm sát các hoạt động tư pháp, mặc dù đây là thuật ngữ được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật Nhà nước như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (gọi tắt là Nghị quyết số 08), Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKSND năm 2002, cũng như trên thực tế đã được các co quan có thâm quyền thực hiện, nhưng hiện nay xung quanh khái niệm “hoạt động tư pháp” vẫn tồn tại nhiều ý kiến: Quan điểm thứ nhất cho răng, HĐTP là hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tô, xét xử, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc bổ trợ cho công tác xét xử của Toà án.
Toà án sử dụng công khai các kết quả hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định tư pháp, áp dụng các thủ tục tư pháp theo luật định để nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết cuối cùng thể hiện quyền lực Nhà nước [38, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng, HDTP là hình thức thực hiện những thẩm quyền tương ứng do luật định của hệ thống Toa án mà thông qua đó chức năng của nhánh quyên lực thứ ba trong Nhà nước pháp quyền biến thành hiện thực [2, tr. Quan điểm thứ ba cho rằng, tư pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng dan, tinh hop pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thé pháp luật [5, tr. Như vậy, theo quan điểm nay thì HDTP chỉ có thé là hoạt động xét xử của Toa án.
Mỗi quan điểm trên đều đứng ở những phương diện nhất định để đưa ra khái niệm “hoạt động tư pháp”. Tuy nhiên, chúng tôi đồng ý với quan điểm phố biến hiện nay, theo đó: HĐTP là các hoạt động do cơ quan tư pháp thực hiện và một số hạn chế hoạt động do các cơ quan được giao một số thâm quyền tư pháp thực hiện, 10 mang tính quyên lực nhà nước, được thực hiện trong quá trình tố tung, được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng, trực tiếp liên quan tới quá trình giải quyết vụ án. Và do đó, HDTP trong TTHS là các hoạt động do cơ quan tiễn hành tố tụng thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện trong quá trình TTHS, được điều chỉnh bằng pháp luật TTHS, trực tiếp liên quan tới việc giải quyết các VAHS [4].