CHƯƠNG 1 1. Phòng ngừa va dau tranh chống tội phạm là những nhiệm vu then chốt để phát triển xã hội, một xã hội ổn định là một xã hội ít tội phạm. Phòng ngừa và dau tranh chống tội phạm không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mọi công dân, tô chức trong xã hội. Trong công cuộc giữ gìn an ninh trật tự xã hội, vai trò của những đơn vị trực tiếp đấu tranh chống tội phạm là vô cùng quan trọng.
Viện kiểm sát là cơ quan trực tiếp đấu tranh chống tội phạm. Với những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự mà Nhà nước giao phó, là đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện xử lý, việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đảm bảo mọi hoạt động tư pháp hình sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo hộ, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Trong giai đoạn KTVAHS, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thé dé thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hành vi sử xự của các cơ quan có thâm quyên khởi tố vụ án.
Qua nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, tác giả luận văn đã xây dựng được khái niệm thế nào là “nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự”, qua đó thấy được vai trò quan trọng của VKS trong công tác phòng, chống tội phạm.Những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm mà Nhà nước giao cho nhằm đảm bảo cho cơ quan Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong giai đoạn KTVAHS, VKS có quyén tự mình khởi tố vu án hình sự, yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tô hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án; quyết định áp dụng, thay đôi, 17 hủy bỏ biện pháp bắt, tạm g1ữ, chấp nhận hoặc không chấp nhận quyết định khởi t6 vụ án của các cơ quan khác có thâm quyên. Mọi quyết định khởi tố vụ án hình sự của các co quan có thầm quyền khởi tố chỉ thực sự có hiệu lực sau khi đã được VKS xem xét, quyết định. Bên cạnh đó Viện kiểm sát còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự chủ yếu tập trung vào hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan có thầm quyền khởi tố vụ án hình sự.
Khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn KTVAHS, Viện kiểm sát được sử dụng tất cả quyên năng pháp lý do luật định dé phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý vi phạm của các cơ quan và nguoi có thẩm quyền tiến hành các hoạt động trong giai đoạn khởi tố vụ án, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Tất cả những luận cứ nêu trên là cơ sở để đánh giá thực trạng của VKS trong khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam ở chương tiếp theo. 18 Chuong 2: QUY DINH CUA PHAP LUAT HIEN HANH VE NHIEM VU, QUYEN HAN VA TRACH NHIEM CUA VIEN KIEM SAT TRONG GIAI DOAN KHOI TO VU AN HINH SU 2. Quy định của pháp luật về nhiệm vu, quyền hạn của Viện kiểm sat trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 2.
Nhiệm vụ, quyên hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công to trong giai đoạn khởi tô vụ án hình sự Viện kiểm sát trực tiếp khởi tố vụ án hình sự. Điều 36, 104 và 109 BLTTHS năm 2003 đều có quy định thống nhất là VKS ra quyết định KTVAHS trong trường hợp VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan quy định tại khoản này và trong trường hợp HĐXX yêu cầu khởi tô vụ án hình sự. Nhu vậy, về thẩm quyên trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án của VKS theo quy định của BLTTHS năm 1988 rộng hơn so với quy định của BLTTHS năm 2003. Theo Điều 87 BLTTHS năm 1988 thì “khi xác định có dau hiệu tội phạm thì Cơ quan diéu tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Điều đó dẫn tới việc khởi tố vụ án bị chồng chéo, đồng thời làm giảm hiệu quả của công tác thực hành quyền công tổ của VKS. Khắc phục tinh trạng trên, BLTTHS năm 2003 đã thu hep phạm vi khởi tố vụ án hình sự của VKS. Theo đó thì VKS chỉ được ra quyết định khởi tố vụ án trong 2 trường hợp đó là: VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT, HĐXX yêu cầu khởi tố vụ án. VKS không chủ động phát hiện và khởi tố vụ án hình sự.
Yêu cau Cơ quan điều tra khởi tô vụ án hoặc thay đối, bố sung quyết định khởi t6 vụ án, kháng nghị quyết định khởi tô vụ án của Hội dong xét xử. Thứ nhất: Yêu cẩu Co quan điều tra khởi to vụ án. Bộ luật tô tụng hình sự năm 2003 quy định khi thực hành quyền công tổ và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, VKS yêu cầu CQDT khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 36. So với BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể và rõ ràng hơn.
Bộ luật tô tụng hình sự năm 1988 không quy định cụ 19 thê về thâm quyền yêu cầu khởi tố vụ án của VKS nhưng theo hướng dẫn tại điểm 2 mục 2 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 19/05/1992 thì khi kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của CQDT, VKS có quyền yêu cầu khởi tố hoặc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, chuyển cho CQĐT để tiến hành điều tra. Như vậy, so với các quy định của pháp luật trước đây thì quyền hạn của VKS bị giới hạn hơn rất nhiều. Thứ hai: VKS thay đổi, bồ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định van dé này tại Điều 106 như sau: “Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tô không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc con có tội phạm khác thì COPT, VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi to vụ án hình sự”.
Còn BLTTHS năm 1988 không quy định về vấn đề nay. Như vậy dé thay được sự đối mới trong các quy định của pháp luật hiện hành xác định rõ nhiệm vu, quyền han và trách nhiệm của VKS trong việc thay đổi, b6 sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Sau khi khởi t6 vụ án hình sự, CQDT có điều kiện thu thập thêm nhiều chứng cứ, tài liệu giúp cho việc nhận thức, đánh giá về hành vi phạm tội đầy đủ và chính xác hơn. Vì vậy, những nhận thức đánh giá ban đầu về tội phạm khi KTVAHS nhiều khi không còn đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra hoặc phát hiện thêm tội phạm mới và vì vay quyết định khởi tố vụ án cần được thay đổi, bổ sung cho phù hợp.
Luật TTHS quy định chỉ có CQDT và VKS mới có thẩm quyền thay đổi hoặc bồ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tô vụ án hình sự của CQDT chưa đủ căn cứ hoặc không có căn cứ thì VKS có văn bản yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc ra quyết định hủy bỏ; nễu CQDT không nhất trí và rõ ràng việc thay đổi, bổ sung này không có căn cứ thì VKS căn cứ theo khoản 5, Điều 112 của BLTTHS ra quyết định hủy bỏ. Trường hợp có căn cứ thay đôi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, VKS có văn bản yêu cầu CQDT ra quyết định; nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không nhất tri thi VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự trong thời gian 24 giờ, ké từ khi ra quyết định phải gửi cho CQDT dé tiến hành điều tra theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. 20 Việc quy định về thay đôi, bô sung quyết định khởi tố vụ án hình sự đảm bảo cho việc khởi tố vụ án được chính xác phù hợp, hạn chế bỏ lọt tội phạm.
Thứ ba: Kháng nghị quyết định khởi t6 vụ án của HDXX. Đỗi với quyết định khởi tố vụ án của HDXX theo quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2003 và Điều 12 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/OD-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân toi cao Tran Quốc Vượng đã ky) thì khi nhận được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của HDXX, Kiểm sát viên thụ lý vụ án tiến hành kiểm tra các tài liệu, chứng cứ và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền dé xử lý như sau: - Nếu thay yêu cầu khởi t6 vụ án của HDXX có căn cứ thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và chuyên ngay quyết định đó kèm theo tai liệu có liên quan đến CQDT có thâm quyên dé tiên hành điêu tra; - Nếu thay yêu cau khởi tô vụ án hình sự của HDXX không có căn cứ thì ra quyết định không KTVAHS và gửi quyết định đó cho Toà án nơi HDXX yêu cầu khởi tó. Thực hiện một số hoạt động khác Trong giai đoạn khởi tô vụ án hình sự, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn nói trên, VKS còn có nhiệm vụ, quyên hạn sau: Thứ nhất: VKS ra quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ, trái pháp luật của COPT và các cơ quan khác có thẩm quyên khởi tô vụ án. Kháng nghị Quyết định KTVAHS của Hội đồng xét xử.
Khoản 2, Điều 109 BLTTHS 2003 quy định về thẩm quyền hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án của Viện kiểm sát.