Khảo sát sự thay đổi nhiệt độ da cổ gáy khi nhĩ áp huyệt Cột sống cổ

Luận văn khảo sát tác động của phương pháp nhĩ áp huyệt Cột sống cổ lên sự thay đổi nhiệt độ da vùng cổ gáy, cung cấp dữ liệu khoa học giá trị.

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Bác sĩ Nội trú

2023

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nhĩ áp huyệt Cột sống cổ và cơ chế tác động

Nhĩ áp huyệt Cột sống cổ là một kỹ thuật điều trị trong y học cổ truyền hiện đại, dựa trên nguyên lý châm cứu tại vùng loa tai. Huyệt Cột sống cổ nằm trên loa tai và có mối liên hệ sâu sắc với vùng cổ gáy của cơ thể. Khi áp dụng nhĩ áp tại huyệt này, nó kích thích các dây thần kinh ngoại vi, đặc biệt là dây thần kinh phế vị (vagus nerve). Đây là cơ chế chính giúp điều hòa hệ thống thần kinh tự chủ, ảnh hưởng đến lưu lượng máu và thay đổi nhiệt độ da ở vùng gáy. Nghiên cứu từ Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã chứng minh rằng kích thích nhĩ áp huyệt Cột sống cổ gây ra sự thay đổi rõ ràng trong nhiệt độ bề mặt da vùng cổ gáy.

1.1. Định nghĩa và vị trí huyệt Cột sống cổ

Huyệt Cột sống cổ là một điểm quan trọng trên bản đồ phân vùng loa tai, nằm ở vùng chính giữa của loa tai. Huyệt này có tên gọi khác là Cervical Vertebrae trong nhĩ châm (Auricular Acupuncture). Vị trí chính xác giúp tác động trực tiếp đến các cơ chế điều tiết hệ thống thần kinh, ảnh hưởng đến lưu lượng máu và cảm ứng nhiệt độ ở vùng cổ gáy.

1.2. Tác động của nhĩ áp lên hệ thống thần kinh

Khi áp dụng nhĩ áp huyệt Cột sống cổ, nó kích thích nhánh loa tai của dây thần kinh phế vị (ABVN). Dây thần kinh này kết nối trực tiếp với nhân bó đơn độc (NTS) - trung tâm điều tiết của não. Kích thích này dẫn đến tăng hoạt động giao cảm và thay đổi mẫu lưu lượng máu toàn thân, đặc biệt tập trung ở vùng cổ gáy, gây ra sự biến đổi nhiệt độ da đo được bằng hồng ngoại.

II. Phương pháp đo lường nhiệt độ da bằng hồng ngoại

Phương pháp đo nhiệt độ hồng ngoại (IRT) là công nghệ tiên tiến được sử dụng để đánh giá sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da vùng cổ gáy khi thực hiện nhĩ áp huyệt Cột sống cổ. Công nghệ này sử dụng camera hồng ngoại FLIR C5 có độ chính xác cao, cho phép ghi nhận các thay đổi nhiệt độ nhỏ nhất ở vùng khảo sát cổ gáy. Kỹ thuật này không xâm lấn, an toàn và đã được Hiệp hội quốc tế các nhà nhiệt học lâm sàng (IACT) công nhận. Việc áp dụng đo nhiệt độ hồng ngoại cho phép các nhà nghiên cứu so sánh nhiệt độ trước và sau khi nhĩ áp, cũng như so sánh giữa nhĩ áp thực và giả nhĩ áp để đánh giá hiệu quả đúng.

2.1. Công nghệ camera hồng ngoại trong y học

Camera hồng ngoại FLIR C5 là thiết bị hiện đại với độ phân giải cao, cho phép ghi hình bản đồ nhiệt độ chi tiết của vùng cổ gáy. Công nghệ này hoạt động bằng cách phát hiện bức xạ hồng ngoại phát từ da, chuyển đổi thành hình ảnh nhiệt. Ưu điểm chính là không tiếp xúc trực tiếp với da, tránh tác động lên nhiệt độ bề mặt da và cho kết quả đo lường chính xác, khách quan.

2.2. Quy trình đo lường và điểm khảo sát

Trong nghiên cứu, vùng khảo sát bao gồm cổ trái và cổ phải ở phía sau, từ gốc cổ đến vai. Bố trí đo nhiệt độ được tiến hành ở các thời điểm cụ thể: trước nhĩ áp, sau 5 phút, 10 phút, 15 phút, 20 phút và 30 phút sau khi áp hạt dán loa tai. Mỗi lần đo, nhiệt độ trung bình (μ) của vùng được ghi lại để so sánh sự thay đổi nhiệt độ vùng cổ gáy giữa các thời điểm.

III. Kết quả thay đổi nhiệt độ da khi nhĩ áp huyệt Cột sống cổ

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Sông năm 2023 tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng nhĩ áp huyệt Cột sống cổ gây ra thay đổi nhiệt độ da vùng cổ gáy rõ rệt và có ý nghĩa thống kê. Kết quả cho thấy nhiệt độ vùng cổ gáy tăng sau khi thực hiện nhĩ áp, đặc biệt là ở thời điểm 15-20 phút. Sự thay đổi này không xuất hiện khi thực hiện giả nhĩ áp (sham auricular acupuncture), chứng tỏ hiệu quả thực sự của kỹ thuật. Ngoài ra, so sánh nhĩ áp huyệt Cột sống cổ bên trái và bên phải cho thấy cả hai bên đều tạo ra thay đổi nhiệt độ tương tự nhau trên vùng cổ gáy.

3.1. So sánh nhiệt độ giữa nhĩ áp thực và giả nhĩ áp

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm A (nhĩ áp thực huyệt Cột sống cổ bên trái)sự tăng nhiệt độ vùng cổ gáy từ 0,5°C đến 1,2°C so với thời điểm ban đầu. Ngược lại, nhóm giả nhĩ áp chỉ ghi nhận thay đổi nhiệt độ nhỏ hơn 0,3°C, không có ý nghĩa lâm sàng. Điều này chứng minh rằng hiệu quả tăng nhiệt độ là kết quả trực tiếp của kích thích huyệt Cột sống cổ, không phải do các yếu tố khác.

3.2. Sự khác biệt giữa áp dụng hai bên huyệt

Khi so sánh nhĩ áp huyệt Cột sống cổ bên trái và bên phải, nhiệt độ cổ trái và cổ phải đều ghi nhận sự tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, nhĩ áp bên trái tạo ra thay đổi nhiệt độ tương tự trên cổ phải, cho thấy kích thích nhĩ áp có tác động song phương trên cơ thể. Hiện tượng này phản ánh tính chất toàn thể của hệ thống thần kinh tự chủ, không giới hạn ở một bên cơ thể.

IV. Ứng dụng lâm sàng và an toàn của nhĩ áp huyệt Cột sống cổ

Nhĩ áp huyệt Cột sống cổ có nhiều ứng dụng trong điều trị các bệnh lý liên quan đến cổ gáyhệ thần kinh tự chủ. Phương pháp này đặc biệt hữu ích trong điều trị đau cổ, căng cơcác rối loạn lo âu (theo thang đo DASS). Với tác động tăng nhiệt độ da, nó giúp cải thiện lưu lượng máu, giảm căng thẳng cơtăng cảm giác thoải mái. Hơn nữa, phương pháp nhĩ áp hoàn toàn an toàn, không có tác dụng phụ nghiêm trọng, khác với thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs). Các biến cố không mong muốn rất hiếm gặp, chủ yếu là chảy máu nhỏ hoặc cảm giác không thoải mái tạm thời.

4.1. Ứng dụng trong điều trị và phòng ngừa bệnh

Nhĩ áp huyệt Cột sống cổ có thể được áp dụng để điều trị đau cổ gáy, rối loạn lo âucác triệu chứng liên quan đến thần kinh tự chủ. Thông qua kích thích dây thần kinh phế vị, phương pháp này giúp điều hòa hệ thống thần kinh, tăng cường hoạt động giao cảm và **cải thiện tình trạng căng thẳng. Ngoài ra, tác dụng tăng nhiệt độ da giúp cứng nhắc cơ bớptăng sự linh hoạt ở vùng cổ gáy, từ đó phòng ngừa chấn thương.

4.2. Tính an toàn và hiệu quả của phương pháp

Nhĩ áp huyệt Cột sống cổ là phương pháp an toàn, không xâm lấntái bền vững. Không có tác dụng phụ nghiêm trọng như thuốc chống viêm (NSAIDs). Biến cố không mong muốn rất hiếm, chỉ gồm chảy máu nhỏ hoặc cảm giác tạm thời không thoải mái. Phương pháp này có thể áp dụng dài hạn cho người tình nguyện khỏe mạnh mà không lo sợ tác dụng phụ tích lũy.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Đau cổ gáy là tình trạng thường gặp nhất trong các bệnh lý liên quan đến vùng cột sống cổ. Ở các nước đang phát triển, tình trạng đau cổ gáy chiếm tỉ lệ cao, ước tính lên đến 37,2% mỗi năm1. Theo thống kê năm 2015, đau cổ gáy được cho là nguyên nhân gây tàn tật đứng hàng thứ tư trên toàn thế giới chỉ sau bệnh thiếu máu cơ tim, bệnh mạch máu não và nhiễm trùng đường hô hấp dưới2-4. Do đó, tình trạng này gây nhiều gánh nặng về chi phí điều trị, năng suất lao động và các vấn đề liên quan đến công việc cho xã hội hiện nay5.

Đau cổ gáy không do chấn thương gây ra bởi nhiều nguyên nhân như đau kiểu cơ học (đau cân cơ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, khớp liên mấu cột sống cổ) hoặc đau kiểu thần kinh (tình trạng thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống gây chèn ép hay kích thích rễ thần kinh) hoặc kết hợp cả hai4. Hướng điều trị chủ yếu là giảm triệu chứng bằng NSAID, thuốc giãn cơ và thuốc giảm đau đơn thuần. Ngoài ra, các phương pháp khác bao gồm phong bế thần kinh, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng,…cũng có thể hỗ trợ điều trị. Trong đó, NSAIDs là thuốc được sử dụng phổ biến nhất nhưng khi sử dụng lâu dài có thể gây ra nhiều tác dụng phụ trên các cơ quan tim mạch, tiêu hóa, gan, thận6-9.

Do đó, việc điều trị đau cổ gáy bằng các phương pháp y học cổ truyền nói chung và châm cứu nói riêng được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là châm cứu đã được chứng minh về tính an toàn, hiệu quả giảm đau, cải thiện chất lượng cuộc sống người bệnh10-13. Trong các phương thức châm cứu thường dùng điều trị giảm đau như thể châm, đầu châm, nhĩ châm,… thì nhĩ áp cũng có bằng chứng cho thấy tác dụng giảm đau mạnh14-16 với nhiều ưu điểm như không xấm lấn, đơn giản, chi phí thấp, thời gian lưu được lâu, người bệnh có thể tự kích thích. Bên cạnh đó, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, ứng dụng lâm sàng và giảng dạy, Tổ chức Y tế thế giới (World Healh Organization - WHO) đã thống nhất đưa ra tiêu chuẩn danh pháp quốc tế các huyệt ở tai17,18. Để làm sáng tỏ điều này, nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ giữa những huyệt này và vị trí tác dụng của chúng, cụ thể, các.

2 nghiên cứu của tác giả Kun-Chan Lan (2019)19, Ling Guan (2012)20, Tao Huang (2013)21, Ping L (2002)22, Song XJ (2010)23 và Vũ Thanh Liêm (2017)24 khảo sát tác dụng các huyệt như Nội quan, Hợp cốc, Túc tam lý, Quang Minh, Ủy trung, Liệt khuyết đều sử dụng phương pháp đo nhiệt độ hồng ngoại. Đây là một phương pháp khách quan, không xâm lấn, đáng tin cậy và dễ thực hiện giúp đánh giá tác dụng các huyệt châm cứu19,25-29. Trong đó, huyệt Cột sống cổ ở tai cũng đã được WHO công nhận và được ứng dụng nhiều trong điều trị các bệnh lý cột sống cổ, đặc biệt là đau cổ gáy. Điều này được chứng minh qua nghiên cứu của tác giả Shnae Lee (2019)12, Bingjiang Xia (2018)30 và Sator-Katzenschlager (2003)31 đều sử dụng huyệt Cột sống cổ trong điều trị tình trạng đau cổ gáy cấp và mạn tính.

Tuy nhiên, hiện tại chưa có nghiên cứu nào chứng minh mối tương quan giữa huyệt Cột sống cổ và vùng cổ gáy bằng phương pháp đo nhiệt độ hồng ngoại khi tiến hành nhĩ áp. Từ những vấn đề đã nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài này để có thể trả lời câu hỏi nghiên cứu rằng có mối tương quan giữa huyệt Cột sống cổ với nhiệt độ da vùng cổ gáy bằng phương pháp đo nhiệt độ hồng ngoại khi kích thích nhĩ áp hay không? Từ đó góp phần bằng chứng hóa vai trò huyệt Cột sống cổ và làm nền tảng cơ sở khoa học cho những nghiên cứu về sau trong điều trị đau cổ gáy trên người bệnh. Đồng thời, khảo sát những biến cố không mong muốn xảy ra trong quá trình thực hiện nhĩ áp huyệt Cột sống cổ. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT: Khảo sát sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da vùng cổ gáy khi nhĩ áp huyệt Cột sống cổ trên người tình nguyện khỏe mạnh MỤC TIÊU CỤ THỂ: 1.

So sánh sự thay đổi nhiệt độ vùng cổ gáy khi nhĩ áp và giả nhĩ áp huyệt Cột sống cổ từng bên. So sánh sự thay đổi nhiệt độ vùng cổ phải và vùng cổ trái khi nhĩ áp huyệt Cột sống cổ từng bên. Khảo sát các biến cố không mong muốn xảy ra trong quá trình nhĩ áp. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cƣơng về nhĩ châm 1.1 Định nghĩa nhĩ châm Nhĩ châm là một phương pháp châm cứu trong đó nơi tác động là các vị trí, các phân vùng đại diện ở loa tai có liên quan đến bệnh tật ở các cơ quan trong cơ thể.

Hiện nay, Nhĩ châm được xếp vào nhóm Vi châm (Microacupuncture)25.2 Giải phẫu học loa tai 1.1 Cấu tạo loa tai Bao gồm: Da, sụn, dây chằng và cơ. - Da: Phủ loa tai mỏng, dính chặt vào mặt trước của sụn hơn là mặt sau. - Sụn: Là một mảnh sụn sợi đàn hồi, tạo nên những chỗ lồi lõm ở loa tai. Ở dái tai không có sụn chỉ có sợi mô mỡ.

- Dây chằng: Gồm dây chằng bên ngoài giúp cố định loa tai vào đầu và dây chằng nội tai. - Cơ: Có 8 cơ nội tai gồm cơ luân lớn, cơ luân bé, cơ bình tai, cơ đối bình tai, cơ tháp tai, cơ ngang tai, cơ chéo tai và cơ khuyết nhĩ luân.2 Phân bố thần kinh ở loa tai Loa tai ngoài được chi phối bởi các dây thần kinh sọ và dây thần kinh tủy sống. - Vận động: nhánh vận động của dây thần kinh VII, điều khiển các cơ tai ngoài. - Cảm giác: nhánh loa tai của dây thần kinh X (The Auricular Branch of the Vagus Nerve – A VN), nhánh thái dương tai của dây thần kinh sinh ba, nhánh cảm giác của dây thần kinh mặt (dây trung gian Wrisberg), dây thần kinh lưỡi hầu, dây thần kinh chẩm nhỏ (bắt nguồn từ các dây C2 và C3) và dây thần kinh tai lớn (bắt nguồn từ dây C2 và C3)25,32,33.3 Cơ sở Y học hiện đại và Y học cổ truyền của phƣơng pháp nhĩ châm 1.1 Cơ sở Y học hiện đại Thuyết con người thu nhỏ (Homuncular Theory): Nogier đã đề xuất bản đồ của một phôi thai bị đảo ngược bằng cách chú ý đến sự tương đồng của nó với loa tai và bản đồ này là tài liệu tham khảo được sử dụng rộng rãi nhất để chẩn đoán và điều trị bằng nhĩ châm.2 Cơ sở Y học cổ truyền - Mối liên hệ giữa tai và kinh lạc: trong Linh khu có nêu ―Tai là nơi hội tụ của tông mạch‖ (Khẩu vấn – Linh Khu 28), hoặc ―Khí huyết của 12 kinh mạch, 365 mạch đều lên mặt để tưới cho ngũ quan, thất khiếu, não tủy ở đầu mặt…trong đó có khí huyết tách ra để tưới nhuần cho tai làm cho tai nghe được âm thanh‖ (Tà khí tạng phủ bệnh hình – Linh Khu 4)25,34.

- Mối liên hệ giữa tai và tạng phủ: ―Thận khí thông ra tai. Thận bình thường thì tai nghe được…‖ (Mạch độ - Linh Khu 17), ― ệnh của Can bị hư…thì tai không nghe được, khí nghịch thì đau đầu, tai điếc‖ (Tạng khí pháp thời luận, Tố Vấn 22), ―Phế chủ âm thanh,… làm cho nghe được‖ (Nan kinh 40), ―Phế khí hư… làm cho tai bị điếc (Chứng trị chuẩn thằng)25,34.4 Cơ chế tác động của nhĩ châm 1.1 Mối liên hệ giữa loa tai và hệ thống thần kinh Friedrich Arnold, một giáo sư giải phẫu người Đức, phát hiện ra rằng việc kích thích ống tai ngoài có thể gây ra một cơn ho tương tự như phản xạ ho do dây thần kinh phế vị gây ra. Phản xạ này được gọi là ―Arnold's Reflex‖ và coi A VN là dây thần kinh hướng tâm của nó. Qua đó cho thấy mối liên hệ giữa loa tai và dây phế vị35.

Dựa trên các kết nối phức tạp trong nhân bó đơn độc (The Nucleus Tractus Solitary – NTS) giữa não và các phủ tạng, kích thích ABVN có thể điều chỉnh hệ. 5 thống thần kinh tự chủ, thể hiện mối liên hệ giữa đám rối phế vị ở tai và nhân bó đơn độc35. Kích thích từ nhĩ châm làm tăng trương lực phế vị và hồi phục hệ thống tim mạch, hô hấp, tiêu hóa và nội tiết. Về hệ tim mạch, nhĩ châm có thể làm giảm nhịp tim và huyết áp, đồng thời đẩy nhanh tốc độ lưu lượng máu và biến thiên nhịp tim (HRV).

Về hệ hô hấp, điện nhĩ châm có tác dụng tích cực đối với rối loạn nhịp hô hấp bằng cách tăng hoạt động của phế vị. Ngoài ra nhĩ châm còn tác động lên nhu động và trương lực dạ dày tương tự như tác dụng của thuốc35.2 Thuyết phản xạ Delta Thuyết phản xạ Delta cho rằng kích thích lạnh hoặc nóng lên các bộ phận của cơ thể sẽ làm tăng nhiệt độ ở các bộ phận tương ứng của tai từ 1˚C đến 5,5˚C. Lý thuyết này được bác sĩ Cho đề xuất vào những năm 1970, đặt ra mối quan hệ giữa các bộ phận của cơ thể và các vùng của tai. Phản xạ này có thể bị ảnh hưởng một phần bởi dây thần kinh X35.3 Mối liên quan giữa các huyệt trên loa tai và vỏ não thông qua Cộng hưởng từ chức năng (fMRI) Gao và cộng sự (2008) đề xuất rằng việc kích thích các điểm khác nhau trong tai có thể tạo ra một phản ứng tương tự trên hệ thống tim mạch và tiêu hóa.

Alimi và cộng sự (2002) chứng minh rằng châm cứu các huyệt trên tai của bàn tay dẫn đến những thay đổi fMRI có chọn lọc trên vùng vỏ não cảm giác bản thể của bàn tay ở hồi sau trung tâm35.5 Cơ chế Nhĩ châm trong quản lý đau Liệu pháp loa tai là một hình thức châm cứu đã được sử dụng trong khoảng 2500 năm, trong đó ghi nhận lâu đời nhất là Hoàng đế Nội kinh và các bản ghi chép của Hippocrates36. Đến năm 1957, Paul Nogier đề xuất các điểm loa tai và sự sắp xếp bào thai lộn ngược trên sơ đồ loa tai, thì nó đã được công nhận và sử dụng rộng rãi không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở những nước châu Âu37. 6 Theo Y học cổ truyền, loa tai kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp với 12 đường kinh mạch, do đó khi kích thích vào tai sẽ điều chỉnh cân bằng khí huyết trong cơ thể, phục hồi sự lưu thông của khí từ đó giúp giảm bớt các tình trạng bệnh lý và cơn đau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ