CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này trình bày tổng quan về các nghiên cứu trước đây liên quan đến các nhân tố tác động đến việc vận dụng Kế toán trách nhiệm (KTTN). Thông qua việc phân tích và tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu đã công bố, tác giả xác định và kế thừa các nhân tố tác động chủ yếu, đồng thời làm rõ những thành quả đã đạt được cũng như những khoảng trống còn tồn tại trong lĩnh vực này. Trên cơ sở đó, tác giả phác thảo mô hình lý thuyết ban đầu và đề xuất định hướng cho nghiên cứu hiện tại. Chương này cũng nêu bật tầm quan trọng của việc nghiên cứu KTTN trong bối cảnh hiện nay, đồng thời xác định rõ mục tiêu, phạm vi và câu hỏi nghiên cứu, tạo nền tảng vững chắc cho các phần tiếp theo của nghiên cứu.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu tổng quan về kế toán trách nhiệm KTTN là “một quá trình kiểm soát chi phí, nó được xây dựng như một công cụ để kiểm soát, đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức, trong đó vai trò của người chịu trách nhiệm kiểm soát bộ phận được nhấn mạnh một cách rõ ràng” (Higgins, 1952). KTTN chỉ tồn tại trong những doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, được phân chia thành bộ phận nhỏ hơn là các trung tâm trách nhiệm (TTTN) ((Kellogg, 1962),(Freeman, 2004) để dễ dàng quản lý. Các TTTN sẽ được phân chia chức năng cụ thể phụ thuộc vào cơ chế quản lý, mục tiêu và sự đánh giá quá tình thay đổi của cơ cấu tổ chức (Rowe, Birnberg, & Shields, 2008).
Các nhà quản lý trong hệ thống kế toán trách nhiệm sẽ trực tiếp chịu trách nhiệm đối với hoạt động của trung tâm do mình quản lý. Điều này được thực hiện dựa trên các phân tích và đánh giá về mô hình tổ chức, cũng như cách sắp xếp và phân công trách nhiệm khác nhau cho từng trung tâm. Cụ thể, khi doanh nghiệp xác định các trung tâm trách nhiệm như trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận hoặc trung tâm đầu tư, mỗi trung tâm sẽ có một nhà quản lý chịu trách nhiệm trực tiếp về hoạt động và kết quả của trung tâm đó. Nhà quản lý sẽ được giao quyền hạn và nguồn lực cần thiết để điều hành trung tâm, đồng thời phải chịu trách nhiệm về việc đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Để đảm bảo trách nhiệm của nhà quản lý, doanh nghiệp sẽ tiến hành phân tích mô hình tổ chức, xem xét cách sắp xếp và phân công trách nhiệm cho từng trung tâm như thế nào là hợp lý và hiệu quả nhất. Việc phân tích này sẽ giúp doanh nghiệp xác 8 định rõ ràng phạm vi trách nhiệm, quyền hạn và nguồn lực của mỗi trung tâm, từ đó giao cho nhà quản lý phù hợp. Nhà quản lý TTTN có trách nhiệm giải trình (Lindkvist & Llewellyn, 2003) và được toàn quyền kiểm soát và đưa ra các quyết định đối với hoạt động của từng TTTN trong phạm vi quản lý (Pajrok, 2014). KTTN không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chi phí mà còn là một công cụ hiệu quả để kiểm soát lợi nhuận của doanh nghiệp.
Điều này được thực hiện thông qua việc tận dụng hiệu quả nguồn lực tài nguyên sẵn có và áp dụng sự phân cấp trách nhiệm phù hợp trong cơ cấu tổ chức. Cụ thể, kế toán trách nhiệm giúp doanh nghiệp theo dõi, đo lường và kiểm soát các hoạt động của các trung tâm trách nhiệm như trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư. Bằng cách phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng trung tâm, doanh nghiệp có thể tối ưu hóa sử dụng nguồn lực tài nguyên một cách hiệu quả nhất, từ đó kiểm soát và tối đa hóa lợi nhuận. Ví dụ, đối với trung tâm chi phí, nhà quản lý sẽ chịu trách nhiệm về việc kiểm soát và giảm thiểu chi phí trong phạm vi trách nhiệm của mình, giúp tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tài chính.
Đối với trung tâm doanh thu, nhà quản lý sẽ tập trung vào việc tối đa hóa doanh thu từ hoạt động kinh doanh, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tương tự, nhà quản lý trung tâm lợi nhuận sẽ chịu trách nhiệm cân bằng giữa việc tăng doanh thu và kiểm soát chi phí để đạt lợi nhuận tối đa.2 Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến việc vận dụng KTTN trong doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc vận dụng kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác động lớn của nhân tố này đối với khả năng áp dụng KTTN thành công. Rezi (2007) và Amiri, Salari, Omidvar, & Thomas (2013) đã đưa ra kết luận về tầm ảnh hưởng to lớn của cơ cấu tổ chức đối với việc triển khai KTTN tại doanh nghiệp.
Cụ thể, các tác giả cho rằng cơ cấu tổ chức ảnh hưởng rất lớn đến khả năng vận dụng KTTN một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức cũng tác động trực tiếp đến việc phân chia tổ chức thành các TTTN khác nhau (Dunn, 2002). Các TTTN được hình thành dựa trên đặc điểm riêng biệt của từng doanh nghiệp cụ thể (Al-Gharaybeh, Al-Harazneh, & Al-Haddad, 2011). Điều này có nghĩa là cơ cấu tổ chức của mỗi doanh nghiệp sẽ quyết định việc phân chia và xác định các TTTN như thế nào cho phù hợp.
9 Cơ cấu tổ chức không chỉ ảnh hưởng đến việc hình thành các TTTN mà còn tác động trực tiếp đến quy trình vận hành và hoạt động của các TTTN này. Amiri et al. (2013) chỉ ra rằng các TTTN chỉ có thể được hình thành khi cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp có sự phân quyền quản lý rõ ràng. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp cần xây dựng một cơ cấu tổ chức phân cấp, phân quyền rõ ràng để có thể thiết lập và vận hành hiệu quả các TTTN.
Khi các TTTN đã được hình thành, nhà quản lý của từng TTTN sẽ được giao quyền hạn phù hợp với trách nhiệm quản lý của mình (Al-Gharaybeh et al. Quyền hạn này bao gồm việc quản lý nguồn lực, ra quyết định và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của TTTN đó. Việc phân quyền quản lý cho các TTTN phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, đảm bảo sự phân công trách nhiệm rõ ràng và tránh chồng chéo, xung đột trong quá trình vận hành. KTTN và TTTN là hai khái niệm gắn liền không thể tách rời.
Các TTTN được hình thành khi cơ cấu tổ chức có sự phân quyền quản lý (Amiri et al. Nhà quản lý TTTN sẽ được giao quyền hạn phù hợp với TTTN mình quản lý (Al-Gharaybeh et al. Hoạt động của các TTTN được đo lường dựa trên ngân sách được lập và dự toán trước đó (Al-Gharaybeh et al., 2011), nhằm xác định hiệu quả thực tế của TTTN và đồng thời, dự toán ngân sách cũng phản ánh mục tiêu của tương lai và cam kết thực hiện mục tiêu dựa trên dự toán đó (Al Hanini, 2013; Ramadan, 2016; Tiến, 2018). Việc lập các TTTN một cách linh hoạt và phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp sẽ giúp tối ưu hóa chi phí và thúc đẩy việc vận dụng KTTN hiệu quả hơn.
Theo Lin và Yu (2002), khi doanh nghiệp vận dụng phương pháp linh hoạt trong việc xác định và thiết lập các TTTN dựa trên kỹ thuật phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, sẽ giúp giảm thiểu chi phí và tăng cường hiệu quả của KTTN. Cụ thể, việc lập các TTTN cần được thực hiện một cách linh hoạt, đảm bảo phù hợp với đặc thù hoạt động, cơ cấu tổ chức và điều kiện thực tế của doanh nghiệp. Các TTTN không nên được thiết lập một cách cứng nhắc, mà cần được xác định và điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn, từng lĩnh vực hoạt động khác nhau của doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có, phân công trách nhiệm rõ ràng và hợp lý, từ đó giảm thiểu các chi phí không cần thiết và tăng cường hiệu quả của KTTN.
Bên cạnh đó, sự hiểu biết của nhà quản lý về vai trò quan trọng của kế toán trách nhiệm cũng ảnh hưởng đáng kể đến tính hữu ích của KTTN trong 10 doanh nghiệp. Ismail và King (2007) đã chỉ ra rằng nếu nhà quản lý có nhận thức đầy đủ về vai trò của kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng, họ sẽ nhận thấy được tầm quan trọng và tính hữu ích của việc vận dụng KTTN trong doanh nghiệp. Từ đó, họ sẽ tích cực hơn trong việc triển khai và áp dụng KTTN, giúp nâng cao hiệu quả của hệ thống này. Ngoài ra, khả năng thực hiện vận dụng KTTN còn đòi hỏi trình độ chuyên môn của người làm kế toán viên.
McChlery, Godfrey, và Meechan (2005) nhấn mạnh rằng để có thể vận dụng KTTN một cách phù hợp, kế toán viên phải có năng lực nghiên cứu, học tập kiến thức mới về KTTN để nhận diện và thực hiện vận dụng KTTN đúng đắn. Akenbor và Nkem (2013) cũng chỉ ra rằng trình độ nhân lực ở các trung tâm trách nhiệm tác động rất lớn đến hiệu quả của hệ thống KTTN. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước KTTN được phát triển và vận dụng ở nhiều nơi trên thế giới và trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về KTTN cũng đã xuất hiện khá nhiều, trong đó chủ yếu là các nghiên cứu về tổng quan, các nhân tố tác động đến KTTN và hiệu quả của việc vận dụng KTTN trong tổ chức.
(Hương, 2016) đã chỉ ra thực tiễn về việc vận dụng KTTN tại VN, nghiên cứu đã chỉ ra việc vận dụng KTTN trong DN tổ chức thành các TTTN. Nghiên cứu của (Bắc, 2016) cũng đã đưa ra các lý thuyết về việc vận dụng KTTN trong quản trị DN. Cùng với đó có khá nhiều nghiên cứu về nhân tố tác động việc vận dụng KTTN ở các lĩnh vực, công ty khác nhau như: (Hạnh, 2015) về KTTN với mối quan hệ với cơ cấu tổ chức của DN, (Phương, 2013), (An & Tuyết, 2017) về nhân tố tác động đến việc vận dụng KTTN trong các DNDV, (Cường, 2021) và một số tác giả khác về nhân tố tác động đến vận dụng KTTN và hiệu quả của KTTN trong lĩnh vực dệt may. Nghiên cứu đã chỉ ra chiến lược cạnh tranh và đặc điểm của DN là hai nhân tố có mức độ tác động lớn đến việc vận dụng KTTN của DN.