Chương 1 của Luận án đã trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu tổng quát là nghiên cứu về chất lượng TTKT trên BCTC, xác định và đo lường các nhân tố tác động đến chất lượng TTKT trên BCTC của các DNXL niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận án là các DN có hoạt động chính trong lĩnh vực xây lắp đã tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Nội (HNX) và Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Theo đó, tác giả xác định được 3 mục tiêu cụ thể. Để đạt được các mục tiêu cụ thể trên, tác giả sử dụng nghiên cứu định tính để khám phá các nhân tố và thang đo đo lường các nhân tố tác động tới chất lượng TTKT trên BCTC ở các DNXL niêm yết.
Sử dụng nghiên cứu định lượng để thực hiện kiểm định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đề xuất. Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung những đóng góp mới trên hai phương diện lý thuyết (xác định được tiêu chí đánh giá chất lượng TTKT trên BCTC phù hợp với DNXL niêm yết, khẳng định sự tác động của 6 nhân tố kế thừa từ các nghiên cứu trước, và khám phá 1 nhân tố đặc thù cho nghiên cứu này); về khía cạnh thực tiễn (kết quả của nghiên cứu là cơ sở để giúp các nhà quản trị, cơ quan quản lý có những đánh giá và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn nhằm góp phần nâng cao chất lượng TTKT trên BCTC qua tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng TTKT trên BCTC ở DNXL niêm yết trên TTCK ở Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan các quan điểm đo lường chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính Trên thực tế, đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề chất lượng TTKT trên BCTC từ rất sớm trong giai đoạn những năm 1960.
Chất lượng của TTKT được xem là một phân hệ nhỏ trong nghiên cứu về hệ thống TTKT bao gồm hai lĩnh vực chủ yếu: Thông tin phục vụ cho quản lý và TTKT (Ge và Mouzhi, 2009, Pamela và Jack 2011). Xuất phát từ mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, trong phần tổng quan này tác giả chỉ đề cập đến chất lượng TTKT trên BCTC để làm tìm hiểu nội dung các nghiên cứu tiền đề, từ đó sẽ đúc rút và xác định được quan điểm phù hợp với mục tiêu trong nghiên cứu của Luận án. Theo quan điểm của Ge và Mouzhi (2009) để đánh giá chất lượng TTKT trên BCTC cần dựa vào ba đặc điểm: Vấn đề, kích thước và phương pháp đánh giá. Trong phần này, tác giả tập trung mô tả vấn đề cốt lõi nhất được Braam và Beest (2013) đã nhấn mạnh là phương thức xác định và đánh giá chất lượng TTKT trên BCTC.
Theo viện công chứng kế toán Mỹ (AICPA) thì TTKT được biểu hiện trên giá trị thông tin cung cấp trên BCTC. Do đó, để đánh giá chất lượng TTKT trên BCTC các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hầu như đều tập trung đánh giá theo giá trị thông tin trên BCTC các DN mang lại. Vì vậy, tác giả chia các quan điểm đánh giá chất lượng TTKT trên BCTC hiện nay thành hai quan điểm cơ bản: 2. Đo lường chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính gián tiếp Đo lường dựa vào hành vi quản trị lợi nhuận hoặc chất lượng lợi nhuận.
Đo lường qua hành vi quản trị lợi nhuận là việc tìm hiểu hành vi tác động bằng các con số thông qua các phương pháp kế toán và giao dịch trong hoạt động kinh tế nhằm điều chỉnh lợi nhuận. Theo đó, chất lượng TTKT biểu hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC có thể bị thay đổi theo hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Nghiên cứu về vấn đề này có Dechow và cộng sự (1995, 2010), Baruch và Zarowin (1998), Healy và Whalen (1999) và Gulza (2011), Quinghua (2007), He và cộng sự (2009), Ge và Schrand (2010), Alves (2014), Nguyễn Trọng Nguyên (2016)… Đo lường qua chất lượng lợi nhuận chính là xem xét mối quan hệ giữa chất lượng lợi nhuận công bố trên BCTC (đại diện cho giá trị DN) và vốn chủ sở hữu (giá cổ phiếu - đại diện cho giá thị trường của DN). Theo đó, nếu có sự thay đổi tương ứng giữa lợi nhuận kế toán cung cấp trên BCTC với giá cổ phiếu thì phản ánh được tính thích hợp của TTKT.
Các nghiên cứu về mối quan hệ này có nghiên cứu của Schipper 11 và Vincent (2003); Nicholas và Walhen (2004); Dechow và cộng sự (2010); EKosuwardi (2009); Keshin Tswei (2012); Đặng Ngọc Hùng (2015) … Đo lường theo hai chỉ tiêu đại diện (hành vi quản trị lợi nhuận, chất lượng lợi nhuận) đều có thể thu thập thông tin từ nguồn dữ liệu thứ cấp (trên các BCTC, báo cáo thường niên) ở chính những DN niêm yết. Nhưng hạn chế là tập trung khảo sát trên quan điểm của người sử dụng BCTC là các nhà đầu tư, chủ nợ. Mặt khác, do coi lợi nhuận hoặc giá cổ phiếu là trung tâm nên khó xác định được lợi nhuận thực của DN (lợi nhuận có thể chi phối hoặc không thể chi phối bởi nhà quản trị); Khó đánh giá chính xác giá trị DN vì không tính đến các yếu tố khác trên như thuyết minh BCTC của DN. Vì vậy TTKT cung cấp chưa hẳn đã định vị được giá trị đích thực của nó.
Đo lường thông qua phản ứng của thị trường chứng khoán. Đo lường theo phương pháp này là đo lường những biểu hiện tác động của thị trường chứng khoán khi có sự thay đổi của BCTC. Chẳng hạn như đánh giá chất lượng thông tin công bố khi lợi nhuận trên BCTC và thường niên của DN thể hiện dưới dạng “tự nguyện”, thì càng giảm thiểu được sự thiếu hụt thông tin của các đối tượng sử dụng. Theo dòng quan điểm này có các nghiên cứu của Beretta và Bozzlan (2006), Laidroo (2009), Roudakin (2011), Đặng Thị Thúy Hằng (2016) … Hay tần suất thay đổi số liệu trên BCTC (tính kịp thời) trong ghi nhận các khoản lỗ trong nghiên cứu của Leuz và cộng sự (2003); Barth và cộng sự (2008)… Hoặc đo lường những tổn thất giá trị thị trường khi phải lập và trình bày lại BCTC qua các nghiên cứu của Whu (2011), Hirschey và cộng sự (2012), Nguyễn Trọng Nguyên (2014)….
Đo lường những rủi ro công bố thông tin với chất lượng của hoạt động KSNB, kiểm toán trong các nghiên cứu của Gaeremynck (2003), Kim và cộng sự (2007), Willekens (2008); Alkdai và Hanefah (2012); Alves (2014) Đo lường chất lượng BCTC theo hướng này dựa trên khảo sát của người lập BCTC ở các DN niêm yết, mặc dù đã đề cập tới các thông tin trên thuyết minh BCTC hoặc các thông tin phi tài chính. Tuy nhiên cũng chỉ xoay xung quanh một yếu tố để đánh giá và đo lường sự ảnh hưởng của chất lượng BCTC với những thay đổi trên TTCK. Ngoài ra, phương pháp đo lường này chỉ dừng lại ở một hoặc một số đặc điểm của TTKT, chưa khái quát được hết các đặc điểm của TTKT và bức tranh toàn cảnh về chất lượng TTKT trên BCTC cung cấp. Đo lường chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính trực tiếp Là quan điểm đo lường dựa trên sự mô tả các thuộc tính về thông tin, có thể đo lường theo các thuộc tính đơn lẻ hoặc đo lường toàn bộ các thuộc tính chất lượng 12 thông tin trên BCTC.
Những thuộc tính của TTKT trên BCTC được quy định quan điểm bởi các tổ chức nghề nghiệp kế toán (IFRS Framework, FASB, AASB, VAS. Với quan điểm này, tồn tại hướng nghiên cứu có thể đánh giá chất lượng TTKT trên BCTC qua một số thuộc tính như: WinKler (2000); Houssain (2008); Nguyễn Thị Phương Hồng và Dương Thị Khánh Linh (2014)… về tính minh bạch; Beest và cộng sự (2009) về tính thích hợp; Schipper, (2003); Nichols và Wahlen (2004) về tính kịp thời; Dechow và cộng sự (1996); Maines và Wahlen (2006) về tính đáng tin cậy…Bên cạnh đó, có thể đánh giá chất lượng TTKT bởi nhiều thuộc tính như nghiên cứu của Jonash và Blanchet (2000)… Quan điểm đo lường này cho phép đánh giá trực tiếp, toàn diện hơn các yêu cầu của TTKT trên BCTC từ góc độ của bên phát hành BCTC. Song, để đo lường được toàn bộ thì việc mô tả đầy đủ các thuộc tính rõ ràng và thu thập dữ liệu là điều khá phức tạp. Lựa chọn quan điểm đo lường chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính Qua tổng quan về đánh giá chất lượng TTKT trên BCTC, tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà mỗi nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau để đo lường chất lượng TTKT trên BCTC.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả lựa chọn quan điểm đo lường chất lượng TTKT trên BCTC trực tiếp (đo lường theo các thuộc tính của TTKT). Bởi các lý do sau đây: Có thể thấy rằng chất lượng TTKT trên BCTC là yếu tố đánh giá mang tính cảm tính giữa chủ thể phát hành BCTC (đại diện chính là các tổ chức, các DN, công ty) và phía các đối tượng quan tâm tới DN (nhà đầu tư, cơ quan quản lý Nhà nước, cổ đông…) nhưng vẫn có thể lượng hóa để phù hợp với thuộc tính của thông tin. Khoảng cách giữa TTKT yêu cầu và thông tin mong đợi trên BCTC càng nhỏ thì chất lượng TTKT trên BCTC đem lại càng cao (Kahn và Strong, 1998). Dù có nhiều quan điểm đo lường chất lượng TTKT trên BCTC khác nhau, song dù với quan điểm nào thì TTKT trên BCTC có chất lượng xét cho cùng phải được đánh giá dựa trên mức độ đáp ứng của nó đối với người sử dụng thông tin.
Cho nên, mô tả được đầy đủ các thuộc tính TTKT trên BCTC tức là đã đảm bảo được chất lượng sản phẩm cung cấp. Hơn nữa, quan điểm tiếp cận trực tiếp (theo thuộc tính) của TTKT trên BCTC cho phép định vị và đo lường về TTKT một cách đầy đủ và thuyết phục nhất, cung cấp toàn diện đa chiều để xác định mức độ ảnh hưởng của TTKT cung cấp tới các hoạt động của DN. Mặt khác, quan điểm đo lường chất lượng TTKT trên BCTC theo 13 phương pháp gián tiếp chỉ sử dụng một chỉ tiêu để làm đại diện cho chất lượng TTKT khó có thể đánh giá toàn bộ mức độ trung thực và chính xác và những giá trị khác của TTKT trên BCTC ở các DN niêm yết. Tổng quan về đo lường chất lượng thông tin kế toán theo các thuộc tính Chỉ ra đặc điểm của TTKT bước đầu được hình thành từ năm 1966 trong tuyên bố lý thuyết kế toán cơ bản (Astatement of Basic accouting Theory) của Paul Fertig.