Phần mở đầu: Giới thiệu những ý tưởng chính của tác giả, sơ lược về nội dung, ý nghĩa, phương pháp thực hiện đề tài. Chƣơng 1: Tổng quan về các nghiên cứu trước liên quan đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận Chƣơng 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, cách tiến hành chọn mẫu và phân tích số liệu thu thập. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận, kiến nghị và hướng nghiên cứu trong tương lai 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC VỀ VIỆC VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÔNG QUỐC TẾ 1.
Tổng quan các nghiên cứu trƣớc về việc vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế tại các quốc gia Kế toán công tuy chỉ được sử dụng như một hồ sơ lưu trữ về ngân sách nhà nước nhưng nó cũng là một trong những chức năng giúp quản lý tài chính công và thực hiện công khai tài chính (Bergmann, 2009). Điều này cũng tương đồng với quan điểm cho rằng kế toán nhà nước phải phán ánh được hệ thống thông tin tài chính của chính phủ và thực hiện công khai tài chính (Chan, 2006). Như vậy, hệ thống kế toán tốt góp phần cải thiện quản lý tài chính nhà nước, góp phần phát triển kinh tế xã hội. Theo Simon (1954), ở mức tối thiểu, một hệ thống kế toán nhà nước tốt phải cung cấp được các số liệu tài chính chính xác; điều này giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý tập trung giải quyết các vấn đề khó khăn chính xác hơn.
Lập kế hoạch và kiểm soát tài chính là nhiệm vụ quan trọng của quản lý tài chính công, được kết hợp dưới hình thức quản lý ngân sách nhà nước. Vì vậy, kế toán ngân sách là phần cốt lõi của kế toán công, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu của kiểm soát ngân sách. Đó là chịu trách nhiệm trình bày và báo cáo việc thực hiện ngân sách nhà nước. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin đo lường khả năng của chính phủ liên quan đến vấn đề về tiền.
Những dữ liệu này là cần thiết giúp cho nhà nước biết được thời điểm có đủ ngân sách để giải quyết, xử lý công việc; để dự đoán những thay đổi về dòng tiền và tạo điều kiện thuận lợi cho những cơ hội đầu tư. Điểm nổi bật của báo cáo này là tính chất so sánh được (Sour, 2012). Một nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế số 1, 6 và 22 đã được tiến hành tại nước Bỉ thông qua Bellanca và Vandernoot. Hệ thống kế toán tại Bỉ thì khác nhau giữa cấp địa phương với cấp trung ương, các trung tâm phúc lợi xã hội,… Liên quan đến việc phân tích sự phù hợp giữa kế toán công của Bỉ với chuẩn mực kế toán công quốc tế, các tác giả lựa chọn chuẩn mực kế 7 toán công số 1 vì nội dung chuẩn mực liên quan đến các báo cáo tài chính, việc cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hoạt động tài chính, và các luồng tiền của một đơn vị.
Chuẩn mực kế toán công quốc tế số 6 thì yêu cầu trình bày về hợp nhất báo cáo tài chính từ các đơn vị kiểm soát. Tại Bỉ, các đơn vị địa phương có các số liệu về ngân sách nhưng không cung cấp báo cáo tài chính hợp nhất của các đơn vị kiểm soát cho nhà nước. Chuẩn mực kế toán công số 22 đề cập đến thông tin về khu vực nhà nước nói chung, mà các thông tin đó cần phải được cung cấp bởi các đơn vị địa phương. Tất cả các thông tin cần thiết để thực hiện theo IPSAS 22 hiện không được cung cấp trong báo cáo quản lý tài chính công hàng năm được công bố bởi ngân hàng quốc gia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các báo cáo tại Bỉ không hoàn toàn thực hiện theo IPSAS 1, 6 và 22, nhưng một số thông tin, dữ liệu có thể được ghi nhận. Tuy nhiên, bài nghiên cứu này lấy bối cảnh cải cách của Bỉ năm 2003. Các tác giả cho rằng đây là lợi thế giống như một cách nhìn nhận lại quá khứ. Nó cho phép hình dung rõ tình hình kế toán để có thể liên kết với các quy định pháp luật về kế toán hiện nay tại Bỉ.
Các chuẩn mực kế toán quốc tế không dễ dàng khi áp dụng. Bên cạnh đó, chi phí cơ hội của các nguồn lực được sử dụng trong việc cải thiện thông tin tài chính của chính phủ ở các nước đang phát triển thì cao hơn rất nhiều tại các nước phát triển (Chan, 2006), nhưng khi xét đến lợi ích phát triển kinh tế xã hội trong tương lai thì đây là hoạt động cấp thiết mà nhà nước cần thực hiện. Sự thành công của cải cách kế toán của nhà nước phụ thuộc chủ yếu vào chính trị và quản lý, sự sẵn có của nguồn lực ngân sách, nhân lực và công nghệ thông tin. Điều kiện cần thiết để cải cách kế toán là việc áp dụng thành công kế toán theo cơ sở dồn tích (Bergmann, 2009; Athukorala và Reid, 2003).
Hệ thống thông tin quản lý tài chính (FMIS) nên được thực hiện cùng với việc áp dụng kế toán cơ sở dồn tích nhưng không nên đầu tư vào một hệ thống mới phức tạp cho đến khi các đơn vị nhà nước đã quen thuộc với kế toán dồn tích (Athukorala và Reid, 2003). Trên thế giới này có nhiều nguyên tắc kế toán công khác nhau tùy thuộc vào mỗi quốc gia. Những báo cáo hằng năm của một nước không thể so sánh với báo 8 cáo hằng năm của một nước khác (Ilie, Miose, 2012). Tuy nhiên, theo số liệu nghiên cứu thu thập tại các nước châu Âu trong năm 2012 của Christiaens, chỉ còn khoảng 17% các nước còn áp dụng hệ thống kế toán tiền mặt.
Những nhà nước sử dụng kế toán dồn tích đang ngày càng tăng lên, đặc biệt là áp dụng IPSAS. Việc áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế tại các quốc gia thường song hành cùng việc cải cách chính sách kế toán tại quốc gia đó. Năm 2012, Ilie và Miose đã tiến hành thực hiện nghiên cứu việc áp dụng các chuẩn mực của IPSAS tại Romania. Kết quả nghiên cứu cho thấy muốn cải cách kế toán công là chuyển các nguyên tắc kế toán áp dụng kế toán doanh nghiệp sang áp dụng cho các đơn vị quản lý khu vực công.
Các đơn vị công đã trải qua nhiều thay đổi do sự chuyển đổi của nền kinh tế và xã hội. Một mặt, các đơn vị đã bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng của việc phân cấp quản lý tài chính nhà nước còn được hiểu là việc nhận được một quyền tự chủ tương đối trong việc phát triển một nhóm các hoạt động. Mặt khác, các đơn vị cũng chịu sự thay đổi của quỹ ngân sách do sự gia tăng của các nguồn bổ sung tài chính. Dựa trên những thay đổi này, nhà nước Romania đã phải thực hiện một hệ thống kế toán công mới.
Việc áp dụng kế toán dồn tích ở Romania không phải là một hiện tượng đơn lẻ. Thay vào đó, nó cho thấy rằng nó là một mô hình phổ biến ở hầu hết các quốc gia. Thực tế cũng chỉ ra rằng có rất nhiều khó khăn để thực hiện cải cách thành công. Tuy nhiên, lợi ích lâu dài sẽ vượt qua chi phí phát sinh trong việc thực hiện.
Sự tham gia của yếu tố con người trong việc thay đổi chính sách là rất quan trọng cho sự thành công của bất kỳ cải cách nào. Bên cạnh đó, một kinh nghiệm khác được rút ra rằng không phải tất cả các nguyên tắc kế toán doanh nghiệp đều phù hợp để áp dụng cho các đơn vị thuộc khu vực công. Cần lưu ý rằng kế toán cơ sở dồn tích không phải là một giải pháp kỳ diệu để cải thiện hiệu quả quản lý tài chính công. Nó chỉ đơn giản là một công cụ để có được thông tin tốt hơn về chi phí thực sự của các đơn vị thuộc khu vực công.
Nó phải được sử dụng một cách hiệu quả và song song với một loạt các cải cách quản lý khác để đạt được sự cải thiện mong muốn trong quá trình ra quyết định. 9 Nghiên cứu của Sour năm 2012 về việc áp dụng chuẩn mực kế toán công và cải cách kế toán khu vực công tại Mexico cũng có kết luận tương tự. Việc áp dụng IPSAS và cải cách kế toán là yếu tố giúp đảm bảo chất lượng thông tin liên quan đến các hoạt động tài chính của nhà nước, giúp cung cấp các dữ liệu cần thiết cho các nghiên cứu về chi tiêu công tại Mexico. Cải cách hệ thống kế toán chi phí đòi hỏi một loạt các thay đổi trong thói quen và quy trình quản lý hành chính, cũng như sự thay đổi trong văn hóa của các đơn vị.
Một khi chính quyền địa phương đã hoàn thành sự thay đổi này, họ sẽ có thể tạo ra các thông tin có giá trị về những quyết định. Đây là một bước cần thiết để đạt được đầy đủ những lợi ích xã hội của cải cách kế toán tại Mexico. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn tập trung chủ yếu vào các chuẩn mực kế toán công số 1, 2 và 17. Việc tác giả lựa chọn ba chuẩn mực này là do mục tiêu của nó tương ứng với các mục tiêu của Luật kế toán nhà nước Mexico về nội dung, cách trình bày các báo cáo tài chính và xác định giá trị tài sản.
Việc thiếu sự hài hòa trong các thông tin kế toán nhà nước của Mexico được khắc phục thông qua việc áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế để tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Như vậy, nhìn chung về các nghiên cứu của các nước trên thế giới, tác giả nhận thấy mỗi quốc gia đều có những chính sách kế toán của riêng mình. Tuy nhiên, với xu thế hội nhập và phát triển kinh tế xã hội, việc áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế là cần thiết và song song với nó luôn là việc cải cách kế toán khu vực công. Tổng quan về các nghiên cứu tại Việt Nam Từ các nghiên cứu trên thế giới, không thể phủ nhận việc áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế sẽ mang lại nhiều lợi ích như tăng tính toàn diện và minh bạch cho báo cáo tài chính, nâng cao chất lượng và tính so sánh giữa các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công.
Hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế được xây dựng trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kế toán doanh nghiệp và được thực hiện chủ yếu trên cơ sở kế toán dồn tích.