CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí môi trường 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Kế toán quản trị môi trường (EMA - Environmental management accounting) và kế toán quản trị chi phí môi trường (ECMA - Environmental cost management accounting) đã được nghiên cứu nhiều bởi các tổ chức quốc tế, các tổ chức kế toán chuyên nghiệp: Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), Ủy ban phát triển bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD), Ủy ban Bảo vệ môi trường của Mỹ (USEPA),… Trong đó, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng kế toán quản trị truyền thống không cung cấp đầy đủ thông tin về EC phát sinh tại doanh nghiệp.
Điều này dẫn đến các nhà điều hành doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi ra các quyết định liên quan đến vần đề môi trường trong doanh nghiệp. ECMA là nội dung chủ yếu của EMA, thậm chí một số công trình nghiên cứu còn đồng nhất thuật ngữ ECMA và EMA. Theo quan điểm của IFAC (2005), EMA là hệ thống kế toán nhằm phản ánh, đánh giá thành quả kinh tế liên quan môi trường và đánh giá trách nhiệm quản lý về môi trường thông qua việc phát triển và ứng dụng các phương pháp kế toán phù hợp. EMA theo định nghĩa của IFAC bao gồm cả việc kiểm toán các vấn đề liên quan đến môi trường, nhưng trọng tâm là tập trung vào các vấn đề như: Hạch toán dòng luân chuyển về nguyên liệu, phân tích EC trong mối quan hệ với chu kỳ sống sản phẩm, kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong đỉều kiện liên quan đến môi trường và bảo vệ môi trường, phân tích mối quan hệ giữa chi phí – lợi ích của các dự án về môi trường, đánh giá sự tác động của môi trường, hiệu quả quản lý môi trường, hiệu quả kinh tế môi trường và trình bày các thông tin về môi trường trong báo cáo kế toán.
Theo quan điểm của UNDSD (2001), EMA là công cụ giúp cho nhà điều hành quy trình nhận diện, thu thập, phân tích và sử dụng thông tin liên quan đến môi trường nhằm phục vụ cho quá trình quản lý, điều hành trong doanh nghiệp. Thông tin liên quan đến môi trường này bao gồm hai loại: Một là, thông tin về mặt vật chất liên quan tình hình sử dụng tài nguyên thiên nhiên như: Năng lượng, nước, nguyên vật liệu, … và sự chuyển hóa các nguồn tài 5 nguyên thiên nhiên, nguyên liệu trong quá trình sử dụng thành các yếu tố đầu ra như: sản phẩm, bán thành phẩm, khí thải, nước thải , chất thải rắn, … Hai là, thông tin về mặt tài chính liên quan đến môi trường như: chi phí liên quan đến môi trường và các khoản thu nhập liên quan đến môi trường. Hiện nay, có nhiều các tài liệu hướng dẫn về ECMA đã được công bố bởi các tổ chức, hiệp hội kế toán của nhiều quốc gia như: Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), Hiệp hội kế toán công chứng Anh (ACCA), Viện kế toán công chứng Nhật Bản (JICPA),. Các tài liệu hướng dẫn này đều đạt được sự đồng thuận cao trong việc xác định nội dung của ECMA trong doanh nghiệp.
Các hướng nghiên cứu cụ thể gồm: - Hướng nghiên cứu về phương pháp xác định EC tùy theo từng mục tiêu cụ thể, phương pháp này được chia làm hai nhóm chính là: + Nhóm thứ nhất là ECMA phục vụ cho mục tiêu phân tích chi phí. Nhóm này gồm: Kế toán EC theo vòng đời sản phẩm (USEPA, 1995); Kế toán chi phí theo dòng vật liệu (Schaltegper và Burrit, 2000; UNDSD, 2001; IFAC, 2005) + Nhóm thứ hai là ECMA phục vụ cho mục tiêu thẩm định đầu tư. Để phục vụ cho mục tiêu này, ECMA sử dụng phương pháp đánh giá chi phí toàn bộ. Theo định nghĩa của USEPA (1995), phương pháp đánh giá chi phí toàn bộ là phương pháp phân tích tài chính toàn diện thông qua việc đánh giá chi phí và tiết kiệm chi phí trong dài hạn theo kinh nghiệm của một dự án đầu tư được thực hiện bởi một tổ chức.
Phương pháp này mang lại lợi ích trong việc đánh giá dự án đầu tư và tiến hành phân tích ngân sách. - Hướng nghiên cứu về thông tin chi phí môi trường Burritt và cộng sự (2002) đã đề xuất khung lý thuyết toàn diện cung cấp một mô hình cho các nhà điều hành để có thể hiểu và đánh giá sự đa dạng mà các công cụ của ECMA đã được phát triển với mục đích khuyến khích họ sử dụng. Theo đó, ECMA được biểu hiện cả dưới thước đo tiền tệ và hiện vật (phi tiền tệ), nó cung cấp thông tin chủ yếu cho việc ra quyết định nội bộ trên cả hai khía cạnh là môi trường và hiệu quả tài chính thuộc phạm vi của kế toán quản trị truyền thống. ECMA đưới thước đo hiện vật bao gồm các đánh giá và báo cáo của doanh nghiệp về dòng chảy của năng lượng, nước, vật liệu và chất thải.
Trong khi đó ECMA dưới thước đo tiền tệ đề cập đến các chi phí mà doanh nghiệp trả cho việc tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (nước, 6 năng lượng), vật liệu và các chi phí khác mà doanh nghiệp trả cho việc kiểm soát hoặc ngăn chặn thiệt hại về môi trường, chi phí cho việc xử lý chất thải. Các nghiên cứu về ECMA hầu hết đều thống nhất các quan điểm sau: (1) kế toán quản trị truyền thống không cung cấp đầy đủ thông tin về EC phát sinh tại doanh nghiệp; (2) EMA cũng như ECMA là công cụ giúp cho nhà điều hành có được thông tin liên quan đến môi trường về mặt giá trị và hiện vật nhằm phục vụ cho quá trình quản lý, điều hành trong doanh nghiệp; (3) Hiện có nhiều phương pháp xác định EC: ECMA theo vòng đời sản phẩm, ECMA theo dòng vật liệu và phương pháp đánh giá chi phí toàn bộ. Các nghiên cứu trong nước Từ những năm 2010 trở đi, do ảnh hưởng của xu hướng kế toán thế giới cũng như nhận diện thấy những nhu cầu cần phải sử dụng những thông tin kế toán liên quan đến môi trường, các nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu về EMA và ECMA tại Việt Nam. Tại Việt Nam, cho đến nay có nhiều nghiên cứu về EMA và ECMA.
Trong đó, tiêu biểu là những nghiên cứu của Phạm Đức Hiếu, Huỳnh Đức Lộng, Lê Thị Tâm, … Theo Phạm Đức Hiếu và Trần Thị Hồng Mai (2012), EMA là bộ phận của kế toán quản trị doanh nghiệp nhằm thu thập, xử lý, phân tích và sử dụng các thông tin tiền tệ và hiện vật liên quan tới các hoạt động của doanh nghiệp đến môi trường nhằm cải thiện hoạt động của doanh nghiệp ở khía cạnh tài chính và môi trường. Theo Huỳnh Đức Lộng (2014), EMA là bộ phận kế toán quản trị doanh nghiệp, trong đó tập hợp những phương pháp kế toán, những quy trình nhằm quan sát, nhận diện, thu thập, đo lường, phân tích và sử dụng thông tin liên quan đến môi trường. Những thông tin này bao gồm thông tin về mặt vật chất liên quan tình hình sử dụng và chuyển hóa các nguồn tài nguyên thiên nhiên như: Năng lượng, nước, nguyên vật liệu, chất thải, khí thải, nước thải, …; thông tin về mặt tài chính như: Chi phí, thu nhập liên quan đến môi trường, thông tin đánh giá trách nhiệm quản lý về môi trường của doanh nghiệp, thông tin đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động quản lý môi trường, đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường. Trên cơ sở đó, cung cấp các thông tin về môi trường chủ yếu cho các nhà điều hành trong nội bộ doanh nghiệp.
7 Nguyễn Thị Nga (2017) nghiên cứu về “Kế toán quản trị chi phí môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất thép tại Việt Nam” đã đưa ra khái niệm về ECMA như sau: “Kế toán quản trị chi phí môi trường là một bộ phận của kế toán quản trị môi trường, thực hiện việc xử lý và cung cấp thông tin về chi phí môi trường phục vụ chức năng quản trị doanh nghiệp”. Lê Thị Tâm (2017) đã đưa ra khái niệm về ECMA như sau: “ECMA là quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin EC cho quản trị nội bộ nhằm gia tăng lợi ích kinh tế và cải thiện hiệu quả môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững”. Các nghiên cứu trong nước cũng có cùng quan điểm với các nghiên cứu trên thế giới về EMA và ECMA. Các nghiên cứu hầu hết đều thống nhất quan điểm: ECMA là một bộ phận của EMA, thực hiện việc xử lý và cung cấp thông tin về EC phục vụ chức năng quản trị doanh nghiệp nhằm gia tăng lợi ích kinh tế và cải thiện hiệu quả môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Những nghiên cứu cũng nêu rõ những loại EC phát sinh tại doanh nghiệp. Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị chi phí môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Việc áp dụng các nguyên tắc trong tài liệu hướng dẫn về ECMA của IFAC (2005) và UNDSD (2001) là không bắt buộc, nên việc vận dụng ECMA trong các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các nhân tố khác nhau. Một nghiên cứu tại đại học RMIT, Úc của Chang và cộng sự (2007) đã được thực hiện nhằm khám phá những nhân tố ảnh hưởng đến ECMA.
Nghiên cứu định tính chỉ ra ba nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc áp dụng ECMA tại RMIT: áp lực chính phủ, hạn chế tài chính và nhận thức của nhà điều hành. Nghiên cứu cho rằng do chính phủ Úc không bắt buộc các trường đại học báo cáo các vấn đề về môi trường, do đó các trường đại học không chịu áp lực phải áp dụng ECMA. Bên cạch đó, việc áp dụng ECMA cũng sẽ làm tăng thêm chi phí cho việc nhận diện, tổng hợp và phân bổ EC. Nghiên cứu của Alkisher (2013) về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị môi trường tại các công ty dầu khí ở Lybia cho rằng nhân tố hỗ trợ của nhà điều hành cấp cao ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng ECMA.
8 Nghiên cứu định tính của Setthasakko (2014) về các rào cản ảnh hưởng đến việc áp dụng ECMA trong công ty sản xuất giấy và bột giấy tại Thái Lan đã chỉ ra nhân tố quan điểm của nhà điều hành. Việc áp dụng ECMA bị ảnh hưởng bởi quan điểm của ban điều hành doanh nghiệp. Ban điều hành của doanh nghiệp thường đặt mục tiêu lợi nhuận là ưu tiên hàng đầu trong các quyết định sản xuất kinh doanh.