ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nhiều thập kỷ qua, ngành điện của Việt Nam đã không ngừng phát triển. Theo Bộ Công Thƣơng "tốc độ tăng trƣởng ngành điện đạt 10.9%/năm trong giai đoạn 2011 - 2016 và đạt 10,1%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020 và sản lƣợng điện tăng gấp 2,3 lần từ 93 tỷ kWh lên đến 215 tỷ kWh sau 10 năm kể từ năm 2011". Bên cạnh việc đầu tƣ, nâng cấp hệ thống điện nhằm giảm tải tỷ lệ tổn thất điện năng thì Việt Nam đã tận dụng thiên nhiên để sản xuất ra những năng lƣợng tái tạo nhằm đa dạng hóa nguồn điện. Theo cơ quan của Hiệp hội Năng lƣợng Việt Nam, năm 2021, ngoài những nguồn năng lƣợng chính đến từ nhiệt điện than, thủy điện, khí tự nhiên với tỷ trọng tƣơng đƣơng 45.25%, thì còn xuất hiện thêm các năng lƣợng tái tạo nhƣ điện gió, điện mặt trời,… chiếm tỷ trọng khoảng 12.27% tổng công suất toàn hệ thống điện.
Về thị trƣờng sản xuất điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang giữ vị trí độc quyền trong việc truyền tải, phân phối và vận hành hệ thống điện, cũng nhƣ chiếm tỉ trọng lớn trong thị trƣờng sản xuất điện Việt Nam. Tiếp theo đó là các tập đoàn Nhà nƣớc khác nhƣ PetroVietnam, Vinacomin,…sử dụng mô hình nhà máy điện độc lập (IPP) để bán cho EVN theo hợp đồng dài hạn. 2 Nhìn chung, lĩnh vực sản xuất điện của Việt Nam vô cùng tiềm năng do hoạt động sản xuất liên quan đến nhiều tài sản cố định hữu hình bao gồm đập thủy điện, nhà máy điện gió, các công trình điện sản xuất bằng năng lƣợng tái tạo,.Việc sở hữu nhiều tài sản cố định hữu hình khiến gia tăng nhu cầu về vốn đầu tƣ hằng năm có thể lên đến hàng nghìn tỷ đồng trong khi nguồn vốn của các doanh nghiệp sản xuất điện chủ yếu đến từ những nguồn sau: nguồn vốn ODA đƣợc chính phủ cho vay lại, quỹ tín dụng từ khách hàng, nhà cung cấp, phát hành trái phiếu doanh nghiệp,…Ngoài ra, hầu hết doanh nghiệp sản xuất điện vẫn còn gặp trở ngại khi kêu gọi, mở rộng nguồn tài trợ, đồng thời một số doanh nghiệp đang phải chịu sức ép của tỷ giá đối với các khoản vay nƣớc ngoài. Hiện nay, Việt Nam đang từng tiến bƣớc vào nền kinh tế toàn cầu, gặt hái đƣợc một số thành công trong các Hiệp định tự do thƣơng mại và mở ra nhiều cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp quốc tế, song vẫn tồn tại một số rủi ro và thách thức cho doanh nghiệp.
Bên cạnh những quy luật khắc nghiệt của cơ chế thị trƣờng thì còn xuất hiện cạnh tranh trong ngành giữa các doanh nghiệp trong nƣớc với nhau. Để tồn tại trong nền kinh tế thị trƣờng này, các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần có những chiến lƣợc phát triển không ngừng bằng cách hiểu rõ cấu trúc vốn của doanh nghiệp mình để tận dụng hết những tiềm năng và năng lực của doanh nghiệp. Vậy nên đối với mỗi doanh nghiệp, việc xác định một cấu trúc vốn tối ƣu là điều vô cùng cần thiết bởi nó sẽ giải quyết đƣợc bài toán khó trong việc tối ƣu hóa chi phí sử dụng vốn và nâng cao giá trị doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không thiết lập cho mình một CTV phù hợp thì sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh cũng nhƣ kiệt quệ về mặt tài chính.
Tuy nhiên trên thực tế, rất khó để xác định cấu trúc vốn thích hợp bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ tình hình doanh nghiệp, tốc độ tăng trƣởng,. Sau khi những lý thuyết về cấu trúc vốn hiện đại nhƣ lý thuyết M&M của Modigliani và Miller (1958), lý thuyết đánh đổi của Kraus và Litzenberger (1973), lý thuyết trật tự 3 phân hạng của Myers và Majluf (1984),…đƣợc công bố, có rất nhiều tác giả thực hiện nghiên cứu về cấu trúc vốn ở các quốc gia phát triển nhƣ: tác giả Chen J.(2004) nghiên cứu về cấu trúc vốn của các công ty tại Trung Quốc, Md-Yusuf và cộng sự (2013) nghiên cứu về các yếu tố quyết định cấu trúc vốn tại các công ty ngành điện – điện tử tại Malaysia, Khaki và Akin (2020) chọn các quốc gia thuộc GCC để nghiên cứu về các yếu tố ánh hƣởng đến cấu trúc vốn,…Tại Việt Nam, vào thời điểm hiện tại đã xuất hiện rất nhiều chủ đề nghiên cứu xoay quanh về cấu trúc vốn nhƣ tác giả Bùi Mạnh Dƣơng (2013) nghiên cứu về những yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của 25 công ty trong lĩnh vực dƣợc phẩm – y tế, nghiên cứu của Lê Thị Minh Nguyên (2016) về cấu trúc vốn trong ngành xi măng hay xem xét những yếu tố ảnh hƣởng đến CTV doanh nghiệp ngành F&B của Lê Nhật Minh Anh (2022),…Tuy nhiên, những bài nghiên cứu về ngành điện nói chung hay sản xuất điện nói riêng vẫn chƣa đƣợc phổ biến tại Việt Nam và đa số các nghiên cứu trong nƣớc đều thực hiện trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn chứng khoán Hà Nội (HNX), rất ít nghiên cứu thực hiện trên sàn UPCOM. Từ những lý do trên cũng nhƣ nhận thấy đƣợc tiềm năng mà lĩnh vực sản xuất điện sẽ mang lại cho Việt Nam ở những năm tiếp theo, tác giả mong muốn thực hiện nghiên cứu đề tài "Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam". MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1.
Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu đặt ra mục tiêu chung là tìm đƣợc những nhân tố tác động đến CTV của doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam. Qua đó, tác giả đề xuất một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp nhằm giúp các doanh nghiệp xây dựng cấu trúc vốn và quản lý vốn hiệu quả, phù hợp với đặc điểm ngành nghề của doanh nghiệp. Mục tiêu cụ thể Để đạt đƣợc mục tiêu chung của nghiên cứu, đồng thời cho ra kết quả tốt nhất, tác giả đề ra một số mục tiêu cụ thể: (i) Xác định CTV của doanh nghiệp sản xuất điện bị tác động bởi những nhân tố nào (ii) Đo lƣờng tác động của các nhân tố đến CTV của các doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam. (iii) Đề xuất các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc xây dựng cấu trúc vốn và quản lý vốn hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất điện.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu trên, khoá luận tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính: (i) Những nhân tố nào tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam ? (ii) Mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến cấu trúc vốn nhƣ thế nào ? (iii) Những khuyến nghị nào nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất điện trong việc cải thiện cấu trúc vốn và quản lý vốn hiệu quả ? 1. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến CTV của những doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: (i) Theo không gian: Nhƣ đã đề cập, ngành điện nói chung hay sản xuất điện nói riêng đều đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống và sản xuất của Việt Nam. Do đó, nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 38 doanh nghiệp sản xuất điện niêm yết trên 3 sàn chứng khoán HOSE, HNX và UPCOM 5 (ii) Theo thời gian: Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất điện đều có thời gian hoạt động trên 5 năm nên dữ liệu nghiên cứu sẽ đƣợc thu thập từ các Báo cáo Tài chính của 38 doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2021.
Tác giả chọn giai đoạn 5 năm để thực hiện nghiên cứu vì đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều biến động do thiên tai lũ lụt, ô nhiễm môi trƣờng, tình hình căng thẳng kinh tế giữa Mỹ - Trung, dịch bệnh Covid_19,… Nhìn chung, các doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam phải đáp ứng đƣợc những điều kiện sau: (i) Thời gian hoạt động từ 5 năm trở lên (ii) Đƣợc niêm yết trên ba sàn chứng khoán Việt Nam bao gồm: HOSE, HNX và UPCOM, đồng thời trên BCTC của các doanh nghiệp phải thể hiện thông chính xác và đầy đủ (iii) Doanh nghiệp không bị lỗ trong quá trình phân tích 1. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để thực hiện các mục tiêu đề ra, nghiên cứu thực hiện phƣơng pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng. Phƣơng pháp nghiên cứu định tính đƣợc tiến hành bằng cách dựa trên 6 lý thuyết tài chính về cấu trúc vốn của các học giả trên thế giới bao gồm: Lý thuyết M&M, lý thuyết đánh đổi, lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết thời điểm thị trƣờng. Bên cạnh đó, tác giả lƣợc khảo, tổng hợp một số nghiên cứu về CTV tại Việt Nam và quốc tế.
Tiếp theo, thực hiện phƣơng pháp định lƣợng thông qua những kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng, bao gồm: Phƣơng pháp ƣớc lƣợng Pooled OLS, phƣơng pháp tác động cố định (FEM) và phƣơng pháp tác động ngẫu nhiên (REM) để kiểm định mô hình. Trong 6 trƣờng hợp mô hình xảy ra hiện tƣợng phƣơng sai sai số thay đổi hoặc tự tƣơng quan, tác giả sẽ khắc phục bằng phƣơng pháp ƣớc lƣợng GLS (Generalized Least Squares). ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp sản xuất điện. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả gợi ý các giải pháp để doanh nghiệp có thể cải thiện và quản lý vốn một cách hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp khác có tính chất tƣơng tự hoặc cùng hoạt động trong lĩnh vực điện có thể tham khảo tài liệu nghiên cứu này. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu về cấu trúc vốn trong tƣơng lai có thể sử dụng tài liệu này làm tài liệu tham khảo. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Cấu trúc khoá luận gồm 5 chƣơng, chi tiết cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1 (GIỚI THIỆU): Chƣơng này sẽ trình bày tính cấp thiết và lý do chọn đề tài này, đồng thời xác định mục tiêu nghiên cứu bao gồm tổng thể và chi tiết, đồng thời xác định các câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu. Bên cạnh đó, xác định phƣơng pháp nghiên cứu và bố cục của khóa luận.
Chƣơng 2 (CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY): Chƣơng này sẽ trình bày lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Sau đó thực hiện lƣợc khảo các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nƣớc về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn.