Chương 1: Cơ sở lý luận va tông quan nghiên cứu về các nhân tô ảnh hưởng đên câu trúc vôn Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Một số khuyến nghị hoàn thiện cấu trúc vốn của các doanh nghiệp sản xuât 12 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN CÁU TRÚC VON 1. Cấu trúc vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm Cấu trúc vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu là tiền và tài sản của chủ sở hữu góp vào ban đầu đề thành lập công ty.
Vốn vay là khoản tiền vay các cá nhân hay tổ chức tin dụng dé hoạt động kinh doanh và đầu tư, tra din theo thời hạn quy định trong hợp đồng hoặc trả lãi suất giai đoạn đầu. Cũng có một loại vốn vay ngăn hạn trong 12 tháng dé đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngắn hạn như nợ phải trả, chi phí vốn lưu động, chi phí sản xuất. Ngoài ra, vốn có thé hình thành từ hình thức tài trợ thương mại, bán hàng trước thanh toán sau làm tăng hệ sỐ thu nhập trên vốn cổ phần. Tuy nhiên, định nghĩa về cau trúc vốn còn dựa vào mục tiêu của phân tích (Rajan và Zingales, 1995).
Brealey, Myers và Allen (2011) định nghĩa cấu trúc vốn bao gồm nợ, vốn cô phần hoặc chứng khoán hỗn hợp do công ty phát hành. Từ các định nghĩa được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu trước đây, cấu trúc vốn của một công ty mô tả cách thức mà một công ty huy động vốn cần thiết dé thiết lập và mở rộng hoạt động kinh doanh, thường nhân mạnh đến mối quan hệ về tỷ trọng giữa các khoản nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Một cấu trúc vốn hợp lý còn tùy thuộc vào điều kiện hoạt động, kinh doanh của từng doanh nghiệp cụ thé: bảo đảm được sự hài hòa giữa vốn chủ sở hữu và các khoản nợ, chỉ phí sử dụng vốn thấp và rủi ro ở mức chấp nhận được. Việc lựa chọn nguồn vốn hợp lý giúp công ty tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiêu rủi ro và tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Do đó, cấu trúc vốn ảnh hưởng đến các quyết định của doanh nghiệp về việc làm, sản xuât và dau tư (Harris và Raviv, 1991). Đặc điểm nguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp gồm hai thành phan chủ yếu là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả Nợ phải trả (vốn vay) là số tiền vay mượn dé hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây là nguồn tài trợ từ bên ngoài và doanh nghiệp sẽ phải thanh toán khoản vay đó đúng thời hạn và tiền lãi theo hợp đồng đã thỏa thuận.
Khoản này thé hiện trong mục Nợ phải tra (Liabilities) trên bảng cân đối kế toán. Nợ phải trả có thể chia thành nợ vay, nợ phải trả nhà cung câp, nợ chiêm dụng. Nợ vay (vốn tín dụng) gồm nợ ngắn hạn (dưới 12 tháng), nợ dài hạn (trên 12 tháng), phát hành trái phiếu, thuê tài chính,. Đặc điểm chính là thời gian linh hoạt, trả sốc và lãi đúng hạn, điều kiện khắt khe, phải thế chấp tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Chi phí sử dụng nợ vay thường cố định và thấp hon chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu. Tác dụng của đòn bay tài chính sẽ được phát huy, nếu công ty dùng nợ vay có hiệu quả sẽ khuếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Vì lãi vay được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nên công ty còn tận dụng được lợi ích tam chắn thuế. Hơn hết, chủ nợ không có quyền kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, dùng nợ vay làm tăng rủi ro tài chính vì không chắc khả năng thanh toán đúng hạn sốc và lãi. Doanh nghiệp sử dụng vốn vay kém hiệu quả (BEP thấp hơn lãi suất tiền vay) có nguy cơ giảm thu nhập chủ sở hữu. Và việc huy động nợ vay có giới hạn nhất định vì chủ nợ thường đề ra hạn mức tín dụng dé hạn chế rủi. Nợ phải trả nhà cung cấp là khoản phải trả cho người bán hàng hóa, vật tư mà minh mua chịu, cơ sở là hợp đồng mua bán quy định số tiền thanh toán và thời hạn thanh toán.
Đặc điểm cơ bản là dựa trên cơ sở tín chấp, không cần tài sản đảm bảo, dựa theo mức độ uy tín của doanh nghiệp mà xác định quy mô vốn, thời hạn ngắn. Nguồn nợ này đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu hàng hóa, vật tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, chi phí sử dụng vốn khá cao vì công ty không được 14 chiết khấu khi thanh toán ngay hoặc chịu lãi suất trả chậm. Ngoài ra, phát sinh khoản nợ này còn dẫn đến tình trạng dây dưa nợ nan giữa các doanh nghiệp với nhau.
Nợ chiếm dụng (vốn chiếm dụng) là những khoản phải trả mà chưa đến kỳ thanh toán, doanh nghiệp có thé dùng trong thời hạn nhất định. Bao gồm tiền lương nhân viên, thuế, lệ phí, phải trả khách hàng, các khoản phải trả khác,. Doanh nghiệp có thé chiếm dụng nguồn vốn này tạm thời và không mat chi phí sử dụng. Do đó, họ có thé tiết kiệm chi phí sử dụng vốn, tận dụng vốn nhàn rỗi cũng như sử dụng vốn linh hoạt hon dé nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tuy nhiên, quy mô vốn chiếm dụng này không lớn, thời gian ngắn, nếu lạm dụng sẽ tăng rủi ro tài chính. Vốn chú sở hữu Vốn chủ sở hữu (Equity) thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp (hoặc các cổ đông), có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng lâu dài, ôn định. Bao gồm hai loại là vốn góp và lợi nhuận giữ lại. Vốn góp là số tiền ban đầu các cổ đông góp vào công ty, hoặc thông qua việc mua cổ phần.
Lợi nhuận giữ lại là phần thỏa thuận giữ lại để tái đầu tư tăng vốn dài hạn (lợi nhuận thực tế còn lại sau khi nộp thuế va chia cé tức cho cô đông được). Sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu có nhiều lợi ích. Doanh nghiệp không phải trả khoản lãi cô định nên không chịu áp lực thanh toán gốc và lãi định kỳ như dùng vốn vay. Từ đó, áp lực tài chính cũng giảm bớt nhiều khi doanh nghiệp khó khăn.
Vì là nguồn vốn nội tại nên công ty có thé chi phối, sử dụng lâu dài cho bất kì hoạt động kinh doanh hay là đầu tư. Đồng thời, họ sẽ ít phụ thuộc vào vốn vay bên ngoài nên tự chủ tài chính hơn. Doanh nghiệp chủ động đầu tư thì sẽ có nhiều cơ hội kinh doanh hơn. Và vốn chủ sở hữu là nguồn tài trợ chính cho hoạt động nay, đầu tư mở rộng sản xuât, nâng cao chât lượng sản phâm, tìm thị trường mới, phát triên sản phâm mới,.
Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng vôn chủ sở hữu chưa cao. Vì không phải thanh toán gôc và lãi định kỳ nên doanh nghiệp chưa cân nhac sử dụng von tiệt kiệm, hiệu qua. Chủ sở hữu chịu rủi ro cao hơn chủ nợ bởi được chia lợi nhuận và hoàn von cuôi cùng nên đòi hỏi tỷ suat sinh lời cũng cao hơn. Chi phí sử dụng nguồn von nay 15 cao hơn chỉ phí nợ vay, một phần vì thu nhập của chủ sở hữu không được khấu trừ trong thuế thu nhập doanh nghiệp.
Và việc huy động nguồn vốn này cũng khó khăn hơn vì vốn chủ sở hữu gắn với quyền kiểm soát của doanh nghiệp, các chủ sở hữu không muốn chia sẻ quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp. Dé tăng vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp nên phát hành thêm cổ phiếu cao hon mệnh giá phát sinh thang dư vốn cổ phan và tăng khoản lợi nhuận giữ lại (tăng doanh thu, giảm chi phí). Vốn chủ sở hữu còn gọi là vốn tự có, nếu nguồn vốn này lớn thì doanh nghiệp có thể an tâm hoạt động kinh doanh cũng như tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất, nghiên cứu và phát trién. Chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn Ty suât nợ và tỷ suât nợ trên von chủ sở hữu là hai chỉ tiêu phô biên giúp do lường câu trúc vôn.
, Nợ phải trả Tỷ suâtnợ= __——— __— *100% Tông tài sản Đây là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa nợ phải trả và tổng tài sản. Nó cho biết mức độ các khoản nợ tài trợ cho tài sản doanh nghiệp chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản. Nếu tỷ suất nợ càng cao thì nợ phải trả càng lớn, doanh nghiệp có thể không thanh toán kịp thời cũng như khó tiếp cận với các khoản vay nợ khác. Đồng thời, khả năng thu hồi vốn với các khoản nợ cũng ngày càng thấp.
Do đó, đây cũng là tiêu chí mà các nhà đầu tư đánh giá rủi ro và mức độ tín dụng của doanh nghiệp. Nợ phải trả Ty suất nợ trên vốn chủ sở hữu = _, * 100% Vôn chủ sở hữu Chỉ tiêu cho biết một đồng nợ sẽ được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu. Đồng thời, nó phản ánh mức độ tự chủ về tài chính, năng lực tài chính, khả năng chủ động nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ lệ này cao cho thấy doanh nghiệp dùng nhiều vốn vay dé tài trợ cho hoạt động kinh doanh của minh.
Nhưng chỉ số cao liên tục trong thời gian đài sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Còn nếu tỷ lệ 16 thấp nghĩa là nợ thấp, vốn chủ sở hữu déi dao, doanh nghiệp không chịu nhiều áp lực tài chính mà đang kinh doanh hiệu quả. Cấu trúc vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ưu khi chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) thấp nhất đồng thời giá trị doanh nghiệp đạt lớn nhất, là việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp. Và việc xác định cấu trúc vốn tối ưu vẫn còn khó khăn, tùy theo các yếu tô tác động, trong đó có yếu tô ngành và chu kỳ tăng trưởng.
Mỗi ngành khác nhau sẽ có cấu trúc vốn tối ưu khác nhau. Và đặc điểm ngành đó sẽ góp phần quyết định cơ cau nguồn vốn cho doanh nghiệp. Ngành khai khoáng, luyện kim hoặc hóa chất tập trung lượng vốn lớn thường từ vốn vay. Các công ty bat động sản, hãng hàng không, tô chức tài chính cũng phụ thuộc vốn vay bên ngoài nhiều hơn.
Một số ngành có khoản nợ nhiều khi họ đầu tư nhiều vao tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, đất dai,. Ngược lại, một sé ngành như dược, quảng cáo, công nghệ lại có khoản nợ thấp hơn. Nếu sử dụng nợ nhiều sẽ làm tăng rủi ro nhưng tỷ suất sinh lời lại cao.