CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ CẤU VỐN 1. Các nghiên cứu thực nghiệm 1. Các nghiên cứu nước ngoài Đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn, các yếu tố phổ biến như khả năng sinh lời, quy mô DN, cơ hội tăng trưởng, cấu trúc TS, chi phí phá sản và tấm chắn thuế, khả năng thanh khoản, quản trị DN đều xuất hiện tại các nghiên cứu của Ross (1977); Bowen và cộng sự (1982); Long và Malitz (1985): Kester (1986); Titman và Wessels (1988). Ngoài ra, Rajan và Lingals (1995), Wald (1999), Booth và cộng sự (2001), Jong và cộng sự (2008) đã nghiên cứu tác động của các yếu tố đặc trưng thể chế quốc gia và sự phát triển của thị trường tài chính như hệ thống pháp lý, đặc điểm kinh tế vĩ mô, hệ thống ngân hàng và TTCK ở nhiều thị trường khác nhau.
Sau này, một số công trình nghiên cứu còn phân tích thêm ảnh hưởng của yếu tố đặc trưng ngành nghề kinh doanh bao gồm mức độ cạnh tranh của ngành, mức độ đảm bao tăng trưởng bền vững của ngành và mức độ rủi ro kinh doanh tới cơ cấu vốn của DN. Chen (2004) thông qua dữ liệu mảng để nghiên cứu tác động của các yếu tố vi mô đến cơ cấu vốn của DN niêm yết tại Trung Quốc từ 1995-2000. Dựa theo mô hình đánh đổi và mô hình trật tự phân hạng, nghiên cứu đưa ra kết luận cơ cấu vốn của các DN tại Trung Quốc tuân theo mô hình trật tự phân hạng mới: lợi nhuận giữ lại, phát hành cổ phiếu, và cuối cùng là vay nợ dài hạn. Supa Tongkong (2012) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cơ cấu vốn của 39 công ty BĐS niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thái Lan (SET) và tốc độ điều chỉnh theo cơ cấu vốn mục tiêu trong giai đoạn 2002-2009.
Phân tích sử dụng mô hình hồi quy bảng tuyến tính để kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cơ cấu vốn, và mô hình hồi quy bảng động sử dụng các phương pháp ước tính Arellano và Bond GMM một bước và hai bước để xác định tốc độ điều chỉnh theo cơ cấu vốn mục tiêu. Các phát hiện chỉ ra rằng đòn bẩy DN có quan hệ thuận chiều với đòn bẩy trung bình của ngành. Hơn nữa, quy mô DN và cơ hội tăng trưởng có mối quan hệ cùng chiều với đòn bẩy DN, khả năng sinh lời và 4 đòn bẩy tài chính có mối quan hệ ngược chiều; trong khi điều kiện kinh tế vĩ mô và điều kiện TTCK có liên quan không đáng kể đến đòn bẩy DN. Kết quả ủng hộ lý thuyết trật tự phân hạng vì các công ty có lợi nhuận cao hơn có xu hướng có ít nợ hơn và các công ty có cơ hội tăng trưởng cao hơn có xu hướng có đòn bẩy lớn hơn.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng chỉ có 63% các công ty BĐS điều chỉnh cơ cấu vốn theo hướng cơ cấu vốn mục tiêu. Thomas và cộng sự (2014) nghiên cứu cơ cấu vốn của 34 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nairobi (Kenya, châu Phi) trong khoảng thời gian nhiều năm (2006-2012) không bao gồm các ngân hàng thương mại. Phân tích chỉ ra rằng khả năng sinh lời và tính thanh khoản có tác động ngược chiều và đáng kể đến cấu trúc vốn. Trong khi, quy mô doanh nghiệp có tương quan thuận và tác động không đáng kể tới cơ cấu vốn.
Jacinta Chan Phooi M’ng và cộng sự (2017) đã nghiên cứu những yếu tố tác động đến cơ cấu vốn của các DN niêm yết tại Malaysia, Singapore và Thailand từ năm 2004 đến năm 2013. Nghiên cứu chỉ ra khả năng sinh lời có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến cấu trúc vốn đối với Malaysia và Singapore nhưng không đáng kể đối với Thái Lan. Trong khi, quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến cấu trúc vốn của tất cả các quốc gia. Bên cạnh đó, cấu trúc tài sản hữu hình có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến cấu trúc vốn đối với Malaysia và Singapore trong khi không đáng kể đối với Thái Lan.
Khấu hao tài sản cho thấy có ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc vốn ở cả ba quốc gia. Lạm phát có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến đòn bẩy tài chính ở Malaysia và Thái Lan và có mối quan hệ không đáng kể đối với Singapore. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần minh chứng lý thuyết đánh đổi và trật tự phân hạng. Các nghiên cứu trong nước Nguyen và Ramachandran (2006) nghiên cứu về cơ cấu vốn của 558 DN vừa và nhỏ (SMEs) của Việt Nam trong giai đoạn 1998-2001, còn Biger và cộng sự (2008) đã nghiên cứu các DN chưa niêm yết trong giai đoạn 2002-2003.
Các biến độc lập đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm hệ số nợ (tỷ lệ tổng nợ trên tổng TS), hệ số nợ ngắn hạn (tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng TS), hệ số nợ dài hạn (tỷ lệ nợ dài 5 hạn trên tổng TS). Kết quả nghiên cứu cho thấy tại thời điểm nghiên cứu, các DN Việt Nam chủ yếu dựa vào khoản vay ngắn hạn thay vì vốn chủ sở hữu. Về các yếu tố tác động đến cơ cấu vốn của DN là quy mô DN, cơ hội tăng trưởng tác động cùng chiều và khả năng sinh lời tác động ngược chiều. Hơn nữa, 02 nghiên cứu trên cho thấy rằng cấu trúc TS hữu hình có mối quan hệ ngược chiều với hệ số nợ.
Theo Nguyen và Ramachandran (2006) điều này là do nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nợ, không nhất thiết đòi hỏi tài sản thế chấp. Biger và các cộng sự (2008) cung cấp thêm rằng các ngân hàng Việt Nam chú ý hơn đến tính thanh khoản hơn là TS hữu hình bởi vì chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Ngoài các yếu tố quan sát phổ biến, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng các DNNN sử dụng nợ nhiều hơn so với các đơn vị tư nhân do mối quan hệ tốt với các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước. Lê Đạt Chí (2013) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định cơ cấu vốn của nhà quản trị tài chính tại Việt Nam, thu thập dữ liệu từ 178 DN phi tài chính niêm yết trong giai đoạn 2007-2010.
Nghiên cứu này sử dụng mô hình các yếu tố tác động cố định trên nền tảng của phép lựa chọn mô hình BMA (Bayesian Model Averaging) và dựa trên nền tảng các lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng, và lý thuyết tài chính chính hành vi. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 6 yếu tố đóng vai trò quan trọng trong quyết định cơ cấu vốn của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2010, đó là thuế, hành vi quản trị, đòn bẩy ngành với tác động cùng chiều; trong khi đó lạm phát, tăng trưởng (tỷ số giá trị thị trường trên giá sổ sách của TS), tỷ suất sinh lợi (ROA) có tác động ngược chiều. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc quyết định cơ cấu vốn của DN trong giai đoạn này cũng có điểm tương đồng với lý thuyết trật tự phân hạng. Lê Thị Mỹ Phương (2014) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của công ty cổ phần ngành Xây dựng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 2009 – 2011 thông qua dữ liệu từ BCTC.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tương quan và hồi quy bội, kết quả chỉ ra rằng có bốn yếu tố thật sự ảnh hưởng đến tỉ suất nợ của các công ty cổ phần ngành xây dựng, yếu tố tính thanh khoản có tác động trái chiều mạnh nhất, tiếp theo là yếu tố quy mô và tỷ 6 lệ vốn nhà nước có tác động cùng chiều, cuối cùng yếu tố rủi ro kinh doanh với tác động trái chiều. Nguyen và cộng sự (2014) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của 116 DN phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2010. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng GMM, kết quả hồi quy cho thấy các yếu tố về tính thanh khoản và khả năng sinh lời có mối quan hệ ngược chiều với hệ số nợ, trong khi đó các yếu tố quy mô, cơ hội tăng trưởng và tỷ sở hữu của nhà nước có quan hệ cùng chiều với tỷ lệ sử dụng nợ. Riêng yếu tố cấu trúc TS hữu hình tác động ngược chiều đối với hệ số nợ ngắn hạn và tác động cùng chiều với hệ số nợ dài hạn.
Tác giả giải thích với các DN có ít TS hữu hình thường ưu tiên nợ ngắn hạn thông qua tín dụng thương mại, trong khi đó các DN có nhiều TS hữu hình sẽ dễ dàng thế chấp để vay nợ dài hạn thông qua các ngân hàng. Nghiên cứu của Do Quang Thai (2014) nghiên cứu tác động của các yếu tố quyết định đến cơ cấu vốn đối với 56 công ty BĐS niêm yết tại Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2013. Tác giả sử dụng mô hình FEM cho ra kết quả rằng các yếu tố khấu hao, quy mô, khả năng sinh lời và sự biến động của hoạt động kinh doanh giải thích được 86,3% cơ cấu vốn của các công ty BĐS, trong đó tỷ lệ khấu hao (tác động ngược chiều) và quy mô công ty (tác động cùng chiều) là hai yếu tố chính gây áp lực lên tỷ lệ nợ. Tác giả không có đủ bằng chứng để khẳng định lý thuyết trật tự phân hạng có tác động đến cơ cấu vốn.
Như vậy, các công trình nghiên cứu về cơ cấu vốn tại Việt Nam chủ yếu nghiên chung cho toàn thị trường mà ít báo cáo có sự phân ngành riêng biệt đặc biệt là nghiên cứu của nhóm BĐS, trong khi mỗi ngành đều có những đặc thù riêng, cơ cấu vốn đặc trưng riêng. Đồng thời, các nghiên cứu tại Việt Nam có thời gian nghiên cứu chưa dài, thường chỉ 3-5 năm. Với những hạn chế trên, khóa luận hy vọng sẽ lấp đầy được một phần trong khoảng trống nghiên cứu này.