CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP 1.Những vấn đề cơ bản về khả năng sinh lời của doanh nghiệp 1.Khái niệm Malik (2011) cho rằng khả năng sinh lời (KNSL) là một trong những thước đo, mục tiêu quan trọng nhất của quản lý tài chính. Mục tiêu của quản lý tài chính là tối đa hóa sự giàu có của chủ sở hữu và khả năng sinh lời là yếu tố quyết định rất quan trọng của hiệu suất. KNSL phản ánh mối quan hệ giữa quy mô và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định. Thông thường, quy mô doanh nghiệp đo lường bằng doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và lợi nhuận có thể là lợi nhuận gộp, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế.
Tương đương là ba chỉ số đánh giá KNSL là tỷ suất lợi nhuận doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE). Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp Khả năng sinh lời của doanh nghiệp được đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau, để đánh giá chúng thì các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thường được sử dụng. - Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (ROS) Tỷ suất xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu, trong một trăm đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ có bao nhiêu lợi nhuận, qua đó phản ánh công tác quản lý các loại chi phí của doanh nghiệp, tỷ suất này càng lớn thì thấy quản lý chi phí càng tốt nhưng với mức độ phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp, ngành kinh doanh. Tỷ suất sinh lời doanh thu có thể đo lường, xác định được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này được xác định như sau: ROS = (Lợi nhuận/ Doanh thu) x100 Chi tiêu doanh thu có thể là doanh thu thuần, doanh thu từ hoạt động kinh doanh (bao gồm doanh thu thuần và doanh thu hoạt động tài chính) hoặc tổng doanh thu và thu nhập khác của doanh nghiệp. Lựa chọn chỉ tiêu doanh thu nào phụ thuộc vào mục đích đánh giá khác nhau của doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lời doanh thu có thể đo lường, 9 xác định được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được sử dụng để đánh giá KNSL trong nghiên cứu của Dioha Charles và các cộng sự (2018) - Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản (ROA) Khả năng sinh lời tổng tài sản phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp, được xác định bằng: ROA = (Lợi nhuận/ Tổng tài sản bình quân)x100 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phản ánh cứ một trăm đồng tài sản hiện có trong doanh nghiệp mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Nếu ROA của doanh nghiệp tăng cao, điều đó cho thấy doanh nghiệp đang tận dụng tài sản một cách hiệu quả và có khả năng sinh lời tốt. Tuy nhiên, nếu ROA của doanh nghiệp giảm thấp, điều đó có thể chỉ ra rằng doanh nghiệp đang không quản lý tài sản một cách hiệu quả hoặc không khai thác tài sản đúng cách. Trong nghiên cứu của Joel Minnema & Alexander Andersson (2018), Mohd Taqi, Rizwan Khan & Imran Anwar (2020), Phan Thu Hiền & Nguyễn Nhật Hà (2020) đều ủng hộ sử dụng ROA để đánh giá KNSL của doanh nghiệp. - Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) Khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận với phần vốn của chủ doanh nghiệp, được xác định bằng: ROE = (Lợi nhuận/ Vốn chủ sở hữu bình quân) x100 Chỉ tiêu này nói lên với một trăm đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư mang lại bao nhiêu lợi nhuận, đánh giá hiệu quả sử dụng VCSH của doanh nghiệp và mức lợi nhuận tương đối mà các cổ đông được hưởng.
ROE càng lớn thì cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại. ROE là một chỉ tiêu mà doanh nghiệp, cổ động quan tâm đặc biệt, là cơ sở để đánh giá dự án, doanh nghiệp và quyết định nên đầu tư hay không. Theo Alarusi (2018), ROE là chỉ tiêu phổ biến để đo lường mức độ sinh lời của doanh nghiệp, việc phân tích chỉ tiêu này quan trọng trong việc xác định mục tiêu của người đứng đầu doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận hay tối đa hóa quy mô. ROE cũng được dùng làm thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động 10 của DN như trong nghiên cứu của Ali Saleh Alarussi & Sami Mohammed Alhaderi (2018), Bambang Sudiyatno & et al (2020).
Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp 1. Đòn bẩy tài chính (DFL) Đòn bẩy tài chính được xác định thông qua tỷ lệ nợ /tổng tài sản, là nhân tố tác động trực tiếp đến tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối tương quan giữa đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời của doanh nghiệp nhưng kết quả nghiên cứu còn chưa có sự đồng nhất. Nghiên cứu của Joel Minnema & Alexander Andersson (2018), Hoàng Tùng (2016), Dương Quỳnh Nga và các cộng sự (2021) kết luận rằng đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tuy nhiên Umer Iqbal & Muhammad Usman (2018), Ngô Thị Hằng & Nguyễn Thị Thuỳ Linh (2020) cho rằng đòn bẩy tài chính có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty nếu lượng nợ không vượt quá lượng vốn chủ sở hữu, còn Mohd Taqi, Rizwan Khan & Imran Anwar (2020) lại cho rằng tác động của đòn bẩy tài chính đến lợi nhuận của công ty có mối tương quan tích cực, do đó các công ty này nên sử dụng nợ tối ưu cho khả năng sinh lời của công ty tăng lên, điều này cũng ảnh hưởng tích cực đến nhà đầu tư. Quy mô doanh nghiệp (Quy mô tổng tài sản) Quy mô công ty là yếu tố quyết định lợi nhuận của công ty. Các công ty có tài sản lớn sẽ sử dụng các nguồn lực sẵn có nhiều nhất có thể để tạo ra lợi nhuận kinh doanh tối đa và các công ty có tài sản nhỏ cũng sẽ tạo ra lợi nhuận theo nguồn lực của mình. Quy mô công ty có thể được thể hiện dưới dạng tổng tài sản, doanh thu và vốn hóa thị trường.
Đại diện cho quy mô công ty được đo bằng giá trị sổ sách của tổng tài sản. Do giá trị tài sản của công ty lớn nên nó được quy đổi thành logarit tự nhiên (Ln) Hirdinis (2019); Setiadharma & Machali (2017 ). Cũng như DFL, hướng tác động của quy mô doanh nghiệp tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp đó có thể theo nhiều cách khác nhau. Sudiyatno và cộng sự.
(2020 ) cho rằng quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đáng kể đến giá trị doanh nghiệp nhưng Hirdinis (2019 ) về tác động của cấu trúc vốn và quy mô doanh nghiệp đến giá 11 trị doanh nghiệp và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp khai khoáng niêm yết trên IDX lại khẳng định ngược lại. Phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng là hồi quy tuyến tính bội với công cụ phân tích dữ liệu sử dụng SPSS 22. Dựa trên kết quả phân tích, kết luận rằng cấu trúc vốn có tác động tích cực đáng kể đến giá trị doanh nghiệp trong khi quy mô doanh nghiệp có tác động tiêu cực đáng kể đến giá trị doanh nghiệp. Khả năng sinh lời không có tác động đáng kể đến giá trị công ty, trong khi quy mô công ty có tác động tích cực đáng kể đến khả năng sinh lời.
Tuy nhiên, khả năng sinh lời không thể làm trung gian ảnh hưởng của cấu trúc vốn và quy mô doanh nghiệp đến giá trị doanh nghiệp. Khả năng thanh toán Trong nghiên cứu này, nó được đại diện bởi khả năng thanh toán hiện hành - đo lường khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn của công ty. Doanh nghiệp không đáp ứng được khả năng thanh toán ngắn hạn sẽ phải đối mặt với rủi ro về vỡ nợ, mức tín nhiệm và hoạt động kinh doanh cũng sẽ giảm sút vì phải dùng một phần tài sản dài hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Dioha và cộng sự (2018) nghiên cứu tác động của các đặc điểm công ty đến lợi nhuận của 18 trong tổng số 22 công ty hàng tiêu dùng niêm yết ở Nigeria giai đoạn 2011-2016.
Khả năng sinh lời là biến phụ thuộc, được đại diện bởi tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), trong khi đặc điểm của công ty là biến độc lập, được đại diện bởi tuổi công ty, quy mô công ty, tốc độ tăng trưởng doanh thu, tính thanh khoản và đòn bẩy. Kết quả nghiên cứu có giá trị hệ số là -0.0030 cho thấy mức độ thanh khoản là tiêu cực tuy nhiên không tác động đáng kể đến lợi nhuận của các công ty. Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng tính thanh khoản không có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công ty như Ali Saleh Alarussi & Sami Mohammed Alhaderi (2018); Joel Minnema & Alexander Andersson (2018). Tăng trưởng doanh thu Tăng trưởng doanh thu là mục tiêu mà tất cả doanh nghiệp đều hướng đến, là một trong các yếu tố quan trọng để đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, vì doanh thu ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Chỉ số về tăng trưởng doanh thu cũng được các nghiên cứu của Phan Thanh Hiệp (2016), Dương 12 Quỳnh Nga et al (2021) và Dioha Charles et al (2018) chứng minh có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Kết quả hồi quy mô hình REM của Dioha Charles et al (2018) cho thấy chỉ số này có tác động cùng chiều đến lợi nhuận của các công ty hàng tiêu dùng niêm yết ở Nigeria. Tăng trưởng GDP Ngoài các yếu tố nội sinh như đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán, tăng trưởng doanh thu, quy mô doanh nghiệp, một trong các biến ngoại sinh như các nhân tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP (tổng sản phẩm quốc nội) cũng được đề cập tới và chứng minh có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. (Serhat Yüksel et al.