CHƯƠNG 1 Qua việc giới thiệu lý do, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, tác giả đã giúp người đọc có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu.Trong chương này, luận văn đã giới thiệu tổng quan về các nghiên cứu có liên quan đến mức độ CBTT, nghiên cứu về QTCT cũng như các nghiên cứu kết hợp QTCT và mức độ CBTT.Đồng thời, luận văn khái quát hóa các nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới và Việt Nam về QTCT và CBTT. Luận văn đã kế thừa những kếtquả nghiên cứu trước, cân nhắc xem xét vận dụng trong điều kiện của Việt Nam để hiệu chỉnh,kế thừa mô hình và cách thức nghiên cứu phù hợp.Thông qua các nghiên cứu đã thực hiện trong nước, luận văn rút ra kinh nghiệm cũngnhư kế thừa các kết quả nghiên cứu đó, khắc phục những tồn tại của các nghiên cứu đãthực hiện trong nước để kết quả nghiên cứu mang tính khác biệt hơn. Từ đó, luận văn đưara kết quả nghiên cứu có nhiều phát hiện mới với những minh chứng và cơ sở lập luận cótính thuyết phục cao hơn trong các phần tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này, tác giả hệ thống hóa lý thuyết về CBTT tự nguyện và QTCT từnhững nghiên cứu trước đây trên thế giới và Việt Nam.
Nội dung này bao gồm việchệ thống hóa nền tảng lý thuyết CBTT tự nguyện và sự tác động của các nhân tố QTCT đến mức độ CBTT tự nguyện. Điều này giúp người đọc tiếp cận lý thuyết về CBTT tự nguyện và QTCT một cách có hệthống và dễ dàng hơn. Một số vấn đề chung về CBTT tự nguyện 2. Khái niệm về CBTT tự nguyện Ở Việt Nam, theo quan điểm của Bộ Tài chính được quy định trong “Sổ tay CBTT dành cho các CTNY”, CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DNnhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời.
CBTT kế toán là rất quan trọng đối với tất cả các bên liên quan; nó cung cấp cho họ các thông tin cần thiết để giảm sự không chắc chắn và giúp họ đưa ra quyết định kinh tế và tài chính phù hợp.Các báo cáo tài chính hàng năm được công bố bởi các công ty được coi là một trong những nguồn quan trọng nhất của thông tin cho bên ngoài (Betosan 1997). Báo cáo hàng năm được sử dụng như một công cụ truyền đạt để giao tiếp các thông tin của DN cả về số lượng và chất lượng với các bên liên quan hoặc với các bên liên quan khác (Barko, Hancock & Izan, 2006). Theo Francesca Citro (2013),CBTT bao gồm hai loại là CBTT bắt buộc và CBTT tự nguyện. CBTTbắt buộc (Madatory disclosure) là nhữngCBTT kế toán theo yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ.
Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật Kinh doanh,Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về kế toán và các chuẩn mực kế toán. CBTT tự nguyện (Voluntary disclosure) được hiểu là các thông tin tài chính và phi tài chính được đề cập trên BCTN mà không bắt buộc phải công bố, luật pháp không yêu cầu. Việc CBTT tự nguyện bên cạnh các thông tin bắt buộc đã vàđang nhận được một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 lượng ngày càng tăng của sự chú ý trong các nghiên cứu kế toán gần đây. Thông tin tự nguyện là các thông tin được công bố bên cạnh những thông tintài chính và phi tài chinh bắt buộc để nâng cao niềm tin và nhận thức của nhà đầu tư về tương lai của DN.
Thông tin tự nguyện giúp cho các nhà đầu tư quyết đoán hơn trong các quyết định của mình. Các thông tin tự nguyện được tiết lộ trong báo cáo hàng năm là một nguồn thông tintuyệt vời thu hút đối với các nhà nghiên cứu và các bên liên quan (Tufail et al. Một BCTN kết hợp cả thông tin bắt buộc và tự nguyện thì chúng liên tục tương tác với nhau. CBTT bắt buộc là nghĩa vụ của một công ty để CBTT trong báo cáo của công ty, trong khi đó tiết lộ tự nguyện là một điều khoản bổ sung thông tin khi CBTT bắt buộc không thể cung cấp một bức tranh trung thực về giá trị của công tyvà hoạt động quản lý.
Khi yêu cầu CBTT bắt buộc có những hạn chế hoặc quy định mơ hồ và khó khăn để giải thích, các công ty có thể bổsung bằng các thông tin tự nguyện. Việc lựa chọn thông tin để công bố tự nguyện là sự lựa chọn tự do của các công ty, nó phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, yếu tố kinh tế, xà hội, và tùy thuộc vào mỗi công ty. Tuy nhiên, không vì thế mà các thông tin tự nguyện trở thành bất kỳ thông tin nào, đa số các thông tin tự nguyện công bố là các thông tin hướng về mục đích cho người sử dụng hiểu rõ hơn về công ty, về khả năng sinh lời trong tương lai, các rủi ro và cơ hội của công ty, từ đó thu hút sự quan tâm đầu tư (Adina and lon, 2008). Công bố tự nguyện liên quan việc trình bày các thông tin vượt quá yêu cầu, bao gồm thông tin kế toán và các thông tin khác mà nhà quản lý cho là có liên quan đến nhu cầu của các bên liên quan.
Việc công bố như vậy nhằm mục đích giảm sự bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và các nhà đầu tư, và cung cấp thông tin nhằm giải thích cho nhu cầu thông tin của các bên liên quan khác nhau (Meek et al, 1995). Theo quan điểm của tác giả luận văn, CBTT tự nguyện đó là việc ngoài các thông tin cưỡng chế bắt buộc phải công bố theo quy định, thì người quản lý phải chủ động trong việc công bố rộng rãi các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 thông tin chiến lược cũng như các thông tin phi tài chính và thông tin quản trị của DN. Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ nghiên cứu về các thông tin tự nguyênđược công bố trên BCTN để có một cái nhìn toàn diện, bao quát hơn về mức độ CBTTtrên TTCKtheo quy định hiện hành. Yêu cầu về công bố thông tin trên BCTN ViệcCBTT phải được thực hiện trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty đại chúng, phương tiện CBTT của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch Chứng khoán được lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất mười năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty để nhà đầu tư tham khảo.
Trong đó, BCTN được coi là nguồn thông tin quan trọng nhất cho các đối tượng sử dụng khác nhau (như các nhà quản lý,cổ đông, nhà đầu tư, cơ quan chính phủ,nhà nghiên cứu. Báo cáo này cung cấp các thông tin định tính và định lượng, tài chính và phi tài chính, hiện tại và tương lai về các đơn vị kinh tế. Có nhiều lý do để lựa chọn BCTN như là một phương tiện thích hợp để nghiên cứu về CBTT. Thứ nhất,BCTN là tài liệu hàm chứa tình hình và kết quả hoạt động toàn diện về một công ty.
Thứ hai, các bên liên quan có thể truy cập thông tin trên BCTN một cách dễ dàng và vào bất cứ lúc nào, được công bốthường xuyên. Thứ ba, các thông tin trên báo cáo này đã được kiểm toán hoặc được đảm bảo ở mức đáng tin cậy. Hiện tại,BCTN được lập theo quy định tại mẫu BCTN ban hành kèm theo thông tư số155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về việc CBTT trên TTCKcó hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Nội dung cơ bản gồm: • Thông tin chung của Công ty; • Tình hình hoạt động trong năm; • Báo cáo và đánh giá của Ban giám đốc; • Đánh giá của HĐQT về hoạt động của Công ty; • Quản trị công ty; • Báo cáo tài chính; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 • Các thông tin khác.
Các yêu cầu về CBTT được quy định tại thông tư này nhấn mạnh việc CBTT phải đầy đủ, chính xác và kịp thờitheo quy định của pháp luật, hoạt động CBTT phải do giám đốc hoặc người ủy quyền CBTT thực hiện. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do người được ủy quyền. Tính đầy đủ thể hiện ở các quy định cụ thể về thể loại, nội dung và hình thức công bố, cả thông tin công bố thường niên và mang tính bất thường có khả năng ảnh hưởng đến quyết địng của người sử dụng. Tính chính xác tức là các thông tin phải hàm chứa tính trung thực, khách quan., và đáng tin cậy.
Đặc biệt ở đây quy định cụ thể việc công bố phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thực hiện, chính là nhà quản trịDN. Ngoài ra, trong thị trường chứng khoán, mọi sự chậm trễ đều làm thông tin mất đi hoặc giảm phần tác dụng. Chính vì thế, yêu cầu về tính kịp thời của thông tinkhông thể chỉ mang tính tự nguyện từ các DN. Việc quy địnhchặt chẽ thời gian tối đa để CBTT trong các trường hợp, chẳng hạn trong CBTT định kỳ, công ty đại chúng phải lập BCTN và CBTTvề BCTNchậm nhất là 20 ngày sau ngày công bố báo cáo tài chính năm được kiểm toán nhưng không vượt quá 120 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Đo lường mức độ CBTT Đo lường mức độ CBTT đóng một vai trò quan trọng trong các nghiên cứu. Theo nghiên cứu của Francesca Citro (2013) có hai cách tiếp cận chính để phát triển một bảnng chấm điểm mức độ CBTT của các công ty là: phân tích nội dung và chỉ số CBTT. Phương pháp phân tích nội dung Phân tích nội dung là phương pháp sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu suy luận từ dữ liệu, nghiên cứu ngôn ngữ để mã hóa chúng và từ đó xếp hạng CBTT. Phân tích nội dung bao gồm hai phạm vi là phân tích từng phần hoặc phân tích toàn diện.
Trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 đó: phân tích từng phần chỉ tập trung phân tích một vài mục thông tin cụ thể hoặc các từ khóa được lựa chọn, còn phân tích toàn diện xét trên toàn bộ tài liệu. Sau khi lựa chọn được phạm vi phân tích: người nghiên cứu có thể tiến hành phân tích cú pháphoặc phân tích chuyên đề tùy theo mục tiêu và hướng nghiên cứu của từng đề tài.