Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này tác giả giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, những đóng góp mới của đề tài và lược khảo một số tài liệu có liên quan. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.; mô hình nghiên cứu được đề xuất và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu.
Trình bày qui trình nghiên cứu, các phương pháp sử dụng để thực hiện đề tài Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý; Thông qua kết quả nghiên cứu , kết luận và đề xuất một số hàm ý, đồng thời nêu những hạn chế của nghiên cứu nhằm có hướng tốt hơn cho những nghiên cứu tiếp theo.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI QUẬN NINH KIỀU – THÀNH PHỐ CẦN THƠ 2.1 Tổng quan về kế toán quản trị 2.1 Khái niệm kế toán quản trị Hầu hết các cuộc cách mạng về sự thay đổi khái niệm KTQT có thể phát triển dựa trên ba trường phái chính; đó là việc phát triển từ các khái niệm của Viện KTQT Hoa Kỳ (IMA), Viện điều lệ KTQT (CIMA) và Hiệp hội kế toán quốc tế (IFAC). Vào năm 1981, IMA đưa ra khái niệm đầu tiên của mình về KTQT dựa trên sự phản ánh về nhu cầu thay đổi của DN đối với thông tin kế toán; tuy nhiên gần đây nhất vào 2008, IMA đưa ra khái niệm về công việc của KTQT là: “… một công việc chuyên nghiệp có liên quan đến viêc tham gia vào qua trình ra quyết định, đề ra kế hoạch và hệ thống thực hiện, đồng thời cung cấp những báo cáo tài chính chuyên nghiệp, giúp các nhà quản trị kiểm soát trong viêc tạo lập và thực hiện chiến lược của tổ chức” (Anthony A.Atkinson et al. Sự thay đổi về mặt khái niệm KTQT của IMA phản ánh xu hướng thay đổi vai trò của KTQT ngày càng thể hiện vai trò là một nhân tố của chiến lược kinh doanh nhằm giúp DN quản tri hiệu suất DN, lập kế hoạch và dự toán, quản tri rủi ro, kiểm soát nội bộ, lập báo cáo tài chính ở những thời điểm có sự thay đổi lớn, và thể hiện vai trò chuyên gia trong các phương pháp quản trị chi phí (IMA, 2008). Còn theo CIMA (CIMA, 1986, 10) thì đưa ra khái niệm về KTQT như là việc cung cấp thông tin cho các nhà quản tri nhằm các mục đích: tạo lập các chính sách, hoạch định và kiểm soát các hoạt động của DN, ra quyết định dựa trên các lựa chọn khác nhau, việc chuẩn bị các báo cáo tài chính cho các nhóm đối tượng bên ngoài như cổ đông, các cơ quan thuế… Sau này trong quá trình hiệu chỉnh lại các thuật ngữ KTQT (CIMA, 2005, 18) thì vai trò cua KTQT đã có nhiều bước tiến và thể hiện một vai trò rộng hơn.
Nó được khái niệm lại như là việc áp dung các nguyên lý kế toán và quản tri tài chính nhằm tạo ra, bảo vệ, duy trì lâu dài và gia tăng giá trị của cô động và các bên có liên quan trong các DN hoạt động vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, trong khu vực tư nhân hay khu vực công. Theo đó, CIMA đã khái niệm lại KTQT một cách chi tiết hơn, nhấn mạnh rằng KTQT là một phần quan trọng của quá trình quản trị trong đó bao gồm việc nhận diện, tạo ra, trình bày, diễn giải các thông tin thích hợp. Sự 6 thay đổi về khái niệm KTQT của CIMA thể hiện rằng KTQT đã tiến đến gần hơn mối quan tâm của các nhà quản tri cấp cao về việc tập trung vào tính hiệu quả, hoạch đinh chiến lược và tạo ra giá tri. Và đến nay, xu hướng của năm 2018 thì CIMA đã đưa ra khái niệm KTQT đơn giản là bao hàm kế toán, tài chính và quản tri với nhưng công cụ quản trị hàng đầu (CIMA, 2018).
Tương tư IFAC đưa ra khái niệm lần đầu vào năm 1989 thì KTQT “… là một quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, chuẩn bị, diễn giãi và truyền đạt các thông tin (cả về tài chính lẫn hoạt động) được sử dụng bởi các nhà quản lý nhằm mục đích hoạch định, đo lường và kiểm soát một tổ chức, và để đảm bảo rằng nguồn lực của tổ chức đo được sử dụng một cách phù hợp và có trách nhiệm”. Khái niệm này cũng tương tự như khái niệm truyền thống ban đầu của các tổ chức khác như IMA. Tuy nhiên sau đó 9 năm, vào năm 1998 thì IFAC đã hiệu chỉnh lại, mở rộng đáng kể vai trò của KTQT trong khái niệm mới của mình. Theo đó, KTQT được xem xét như các hoạt động gắn bó, đan xen với tất cả các hoạt động quản trị của tổ chức.
Hay nói cách khác, KTQT hướng đến vai trò quản trị nhằm tập trung vào việc tạo ra giá tri cho tổ chức bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực với các con người năng động trong nhưng tình huống cạnh tranh. Và sau này theo khái niệm mới về KTQT của IFAC (2002) thì “…KTQT hướng về các quá trình xử lý và kỷ thuật, tập trung vào viêc sử dụng một cách có hiệu quả và hiệu suất những nguồn lực của tổ chức, giúp hỗ trợ các nhà quan trị hoàn thành nhiệm vụ gia tăng giá trị cho khách hàng cũng như cổ đông” (Langfield- Smith & ctg. Theo luật kế toán Việt Nam, KTQT được định nghĩa là “…việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Khoản 10 điều 3 Luật Kế toán số 88/2015/QH15)ngày 20 tháng 11 năm 2015 a/ Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;. nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế.
Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước chỉ 7 hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phương pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện. b/ Đối tượng nhận thông tin kế toán quản trị là Ban lãnh đạo doanh nghiệp và những người tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các thông tin về kế toán quản trị trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. c/ Đơn vị tính sử dụng trong Kế toán quản trị, gồm: Đơn vị tiền tệ, đơn vị hiện vật, thời gian lao động hoặc các đơn vị tính khác theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
d/ Nguyên tắc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị: Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị của đơn vị. đ/ Doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính để phối hợp và phục vụ cho kế toán quản trị.2 Tiến trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị Kế toán quản trị xuất hiện hiện rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp vào những năm cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 ở các nước có sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Đầu tiên, kế toán quản trị xuất hiện dưới hình thức kế toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất với quy mô nhỏ nhằm đáp ứng chủ yếu nhu cầu thông tin cho nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp để kiểm soát chi phí, định hướng sản xuất từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất kinh doanh so với các doanh nghiệp lớn.
Sau đó, từ những hữu ích và hiệu quả mà thực tiễn vận dụng kế toán quản trị mang lại, kế toán quản trị bắt đầu được chú ý, vận dụng trong nhiều lĩnh vực, phát triển nhanh chóng trong nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau và cả trong những tổ chức phi lợi nhuận như các cơ quan Nhà nước, bệnh viện, trường học,… Theo IFAC (1998) kế toán quản trị trải qua bốn giai đoạn phát triển, các giai đoạn không loại trừ lẫn nhau mà những giai đoạn sau bao hàm, bổ sung và kết hợp với các giai đoạn trước đó để tiếp thu cái mới và phản ánh được sự thay đổi trong môi trường kinh doanh 8 Giai đoạn thứ nhất: xác định chi phí và kiểm soát tài chính (trước năm 1950) IFAC mô tả kế toán quản lý trước năm 1950 là "một hoạt động kỹ thuật cần thiết cho việc theo đuổi các mục tiêu tổ chức" (đoạn 19). Trọng tâm của nó chủ yếu hướng tới việc xác định chi phí sản phẩm. Công nghệ sản xuất tương đối đơn giản, với các sản phẩm trải qua một loạt các quy trình riêng biệt. Chi phí lao động và vật liệu dễ dàng được xác định và các quy trình sản xuất chủ yếu được điều chỉnh bởi tốc độ hoạt động thủ công.
Do đó, lao động trực tiếp cung cấp cơ sở tự nhiên cho việc phân bổ chi phí cho các sản phẩm riêng lẻ. Trọng tâm vào chi phí sản phẩm được bổ sung bởi ngân sách và kiểm soát tài chính của các quy trình sản xuất. Vị thế mạnh mẽ được tổ chức bởi các nước phương Tây trên thị trường quốc tế khiến sản phẩm của họ được đánh giá cao. Chúng có thể được bán tương đối dễ dàng và cạnh tranh trên cơ sở giá cả hoặc chất lượng tương đối thấp.
Có rất ít sự đổi mới trong các sản phẩm hoặc quy trình sản xuất vì các sản phẩm hiện có được bán tốt và các quy trình sản xuất được hiểu rõ.