chương 1 tác giả trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu liên quan tới đề tài tác giả lựa chọn nghiên cứu. Từ đó, tác giả tiếp tục đi vào xác định mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể. Xây dựng câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu của đề tài để thấy được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Và cuối cùng, là trình bày sơ lược nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương.
Chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Tác giả cung cấp các khái niệm tổng quát về kế toán quản trị, định nghĩa DNSX cũng như đề cập đến các nghiên cứu trước đó của các tác giả trong và ngoài nước, từ đó làm cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 2.1 Các khái niệm về kế toán quản trị Theo Luật kế toán 2015 thì “Kế toán” được định nghĩa là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động; “Kế toán tài chính” là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Tác giả Võ Văn Nhị (2007) cho rằng “Kế toán chi phí” có thể hiểu là một bộ phận tách ra từ KTTC và KTQT với trọng tâm cung cấp thông tin chuyên sâu về chi phí, là một lĩnh vực kế toán có liên quan chủ yếu với việc ghi chép, phân tích chi phí để tính giá thành, kiểm soát chi phí, đánh giá tình hình thực hiện chi phí, kế hoạch chi phí cho kỳ kế hoạch. Hầu hết các cuộc cách mạng về sự thay đổi khái niệm KTQT có thể phát triển dựa trên ba trường phái chính; đó là việc phát triển các khái niệm của Viện KTQT Hoa Kì (IMA), Viện điều lệ KTQT (CIMA) và Hiệp hội kế toán quốc tế (IFAC).
Vào năm 1981, IMA đưa ra khái niệm đầu tiên của mình về KTQT là “…một công việc chuyên nghiệp có liên quan đến việc tham gia vào quá trình ra quyết định, đề ra kế hoạch và hệ thống thực hiện, đồng thời cung cấp những báo cáo tài chính chuyên nghiệp, giúp các nhà quản trị kiểm soát trong việc tạo lập và thực hiện chiến lược của tổ chức” (Atkinson, 2012). KTQT theo định nghĩa của CIMA (Chartered Institute of Management Accountants) – Hiệp hội kế toán quản trị công chứng Anh Quốc (CIMA, 2005, trang 18) như là “…việc áp dụng các nguyên lý kế toán và quản trị tài chính nhằm tạo ra, bảo vệ, duy trì lâu dài và gia tăng giá trị của cổ đông và các bên có liên quan trong các DN hoạt động vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, trong khu vực tư nhân hay khu vực công. KTQT là một phần không thể thiếu trong quản lý, bao gồm việc nhận diện, tạo ra, trình bày, giải thích và sử dụng các thông tin có liên quan đến: ra quyết định chiến lược và xây dựng chiến lược doanh nghiệp; kế hoạch logistics; các hoạt động trong trung và ngắn hạn; xác định cơ cấu vốn và cấu trúc tài trợ vốn; thiết kế chiến lược thưởng cho giám đốc và cổ đông; ra quyết định hoạt động; kiểm soát hoạt động và đảm bảo sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; đo lường và báo cáo hoạt động tài chính và phi 7 tài chính cho cấp quản lý và các bên liên quan; bảo vệ tài sản hữu hình và vô hình; triển khai thực hiện quản lý công ty, quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ…” Theo IMA (Institude of Management Accountants) – Hiệp hội KTQT Hoa Kỳ thì KTQT còn được định nghĩa là “…một nghề nghiệp liên quan đến việc tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý, vạch ra kế hoạch và hệ thống quản lý hiệu suất, đồng thời cung cấp báo cáo tài chính chuyên nghiệp, hỗ trợ nhà quản lý kiểm soát trong việc xây dựng và thực hiện các chiến lược của một tổ chức…” (IMA, 2008, trang 2) Theo IFAC (2002) thì “KTQT hướng về các quá trình xử lý và kỹ thuật, tập trung vào việc sử dụng một cách có hiệu quả và hiệu suất những nguồn lực của tổ chức, giúp hỗ trợ các nhà quản lý hoàn thành nhiệm vụ, gia tăng giá trị cho khách hàng cũng như cổ đông.” Tại Việt Nam cụm từ “Kế toán quản trị” được đề cập lần đầu trong Luật Kế toán 2003. Theo Luật Kế toán 2015, tại khoản 10, điều 3: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Các định nghĩa nêu trên, cũng như nhiều định nghĩa khác cho thấy KTQT phát triển mạnh mẽ theo thời gian. Những định nghĩa truyền thống dần thu hẹp, nhường chỗ cho các định nghĩa nhấn mạnh vào việc quản trị doanh nghiệp ở mức cao hơn, thể hiện KTQT là một công cụ không thể thiếu trong quản trị, là một công cụ thực tế được ứng dụng rộng rãi trong quản lý của doanh nghiệp.2 Vị trí của KTQT trong tổ chức Để có thể thấy được vai trò của kế toán quản trị trong quá trình hoạch định và kiểm soát ta cần phải hiểu được cơ cấu của tổ chức, vị trí của kế toán trong tổ chức, kỹ thuật và qui trình kế toán quản trị. Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận hoặc các khâu khác nhau trong tổ chức, được chuyên môn hóa và có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định. Cơ cấu tổ chức được phân chia thành những cấp khác nhau nhằm thực hiện các chức năng quản trị, hướng mọi hoạt động trong tổ chức về mục tiêu chung.
Tuy nhiên, do qui mô, lĩnh vực và môi trường hoạt động khác nhau nên cơ cấu của mỗi tổ chức cũng khác nhau và luôn thay đổi khi môi trường hoạt động thay đổi. Kế toán nói chung là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức quản lý của mỗi tổ chức, nhất là đối với các đơn vị kinh doanh. Bộ máy kế toán là tập hợp những kế toán viên và những trang bị kỹ thuật để thực hiện toàn bộ công tác kế toán trong doanh nghiệp. Bộ phận này thực hiện các công việc của cả kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Ở một số doanh nghiệp lớn, có thể tổ chức kế toán quản trị thành một hệ thống riêng biệt, nhưng cũng không 8 ít doanh nghiệp chỉ tổ chức một bộ phận kế toán quản trị trong bộ máy kế toán hoặc cũng có những doanh nghiệp không có chức danh kế toán quản trị. Tuy nhiên, chức năng kế toán quản trị vẫn được thực hiện ở những mức độ khác nhau đan xen với bộ phận khác trong bộ máy kế toán doanh nghiệp. Bộ máy kế toán trong tổ chức có thể được xây dựng theo mô hình tập trung, mô hình phân tán hay mô hình kết hợp. Người đứng đầu bộ máy kế toán, ở Việt Nam, là kế toán trưởng.
Trên thế giới, người chịu trách nhiệm về chức năng kế toán trong tổ chức có nhiều chức danh khác nhau: kế toán trưởng (controller), giám đốc tài chính (financial manager), hay chuyên gia phân tích tài chính (financial analyst),… Người đứng đầu bộ máy kế toán, dù với chức danh gì, vẫn là người tham mưu, cố vấn cho lãnh đạo về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính trong tổ chức; là nhân sự cao cấp trong tổ chức, trực tiếp tham gia vào quá trình ra quyết định.3 Vai trò, chức năng của KTQT Vai trò của kế toán quản trị là một hệ thống thông tin hỗ trợ các nhà quản lý trong việc thực hiện chức năng của mình. Là một hệ thống trong đó thông tin được thu thập, hỗ trợ cho việc lập kế hoạch, ra quyết định, kiểm soát và phân tích các giả định liên quan với thực tế dễ dàng hơn. Theo IFAC, vai trò của KTQT thể hiện như một phần không thể tách rời của quy trình quản trị, với vai trò cung cấp thông tin cần thiết để kiểm soát những hoạt động hiện tại của doanh nghiệp, hoạch định chiến lược, chiến thuật và hoạt động tương lai của DN; tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực; đo lường và đánh giá hoạt động của DN; giảm thiểu tính chủ quan trong quá trình ra quyết định và cải thiện hoạt động giao tiếp trong và ngoài doanh nghiệp (IFAC, 1998, trang 99). Kế toán quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những người quản lý doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát hoạt động của họ (Robert S.Kaplan và Anthony A.
Như vậy, vai trò của KTQT đối với các nhà quản trị doanh nghiệp là hỗ trợ họ thực hiện các chức năng: + Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: Vai trò của KTQT phục vụ chức năng lập kế hoạch là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận và toàn doanh nghiệp…. Thông tin KTQT cung cấp dựa trên việc phân tích, đánh giá tình hình và đưa ra dự báo, dự toán. Từ đó, giúp nhà quản trị xây dựng các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. + Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức và điều hành: 9 Vai trò của KTQT phục vụ chức năng tổ chức – điều hành là cung cấp thông tin cho việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý trong doanh nghiệp và những thông tin phát sinh hàng ngày trong doanh nghiệp.
Thông tin do KTQT cung cấp phải có tác dụng phản hồi về hiệu quả và chất lượng của các hoạt động đã và đang được thực hiện để giúp nhà quản trị có thể kịp thời điều chỉnh và tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp. +Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra, đánh giá: Vai trò của KTQT phục vụ chức năng kiểm tra, đánh giá là cung cấp thông tin về tình hình thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch của từng bộ phận trong doanh nghiệp, giúp nhà quản trị kiểm soát được việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lại. + Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Vai trò của KTQT phục vụ chức năng ra quyết định là thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin liên quan đến các phương án kinh doanh nhằm giúp nhà quản trị lựa chọn phương án tối ưu nhất.