MỞ ĐẦU 1. Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam đã không ngừng thay đổi để hoàn thiện mình và bắt kịp với xu thế thời đại. Nhà nước đã có rất nhiều chính sách để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như khuyến khích các DN trong nước xuất khẩu sang thị trường thế giới. Đặc biệt, việc chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy quá trình cổ phần hóa DN cũng như sự đa dạng hóa thành phần kinh tế diễn ra mạnh mẽ.
Sự thay đổi hình thức DN nhu cầu về thông tin kế toán cũng thay đổi theo, đặc biệt là thông tin về KTQT. Điều này đã dẫn đến những cái nhìn mới về hệ thống không chỉ phục vụ cho các đối tượng bên ngoài DN như cơ quan quản lý nhà nước, thuế, kiểm toán, các nhà đầu tư… mà còn có vai trò phục vụ đắc lực cho các nhà quản trị DN. Để làm được điều này, bản thân kế toán tài chính không thể đáp ứng được vì nó được hình thành từ quá trình hoạt động của DN và phản hồi những gì đã xảy ra trong quá khứ, trong khi đó cái mà các nhà quản trị DN cần là những gì mang tính định hướng phục vụ cho việc ra quyết định. Do đó, tất yếu phải dùng đến thông tin của KTQT.
Tuy nhiên, KTQT không bắt buộc và việc áp dụng nó ở các DN đã được rút ra từ các nghiên cứu ở một số nước trên thế giới nhưng chưa có cơ sở để khẳng định ở Việt Nam vì sự hạn chế về nghiên cứu. Kết quả từ Báo cáo tổng kết khoa học của TS. Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) về “nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam” đã bước đầu cho thấy thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT đối với các loại hình DN ở Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu này được thực hiện qua hình thức chọn mẫu trên luan.nguyen download by : skknchat@gmail.nguyen 2 phương diện rộng và đối tượng được nghiên cứu là các DN lớn và vừa nên chưa thể khái quát hết được cho hệ thống DN Việt Nam, do đó, cũng không thể suy rộng ra cho các DN ở từng khu vực.
Mặt khác, khu vực Tây Nguyên thời gian gần đây đã phát triển số lượng lớn các DNVVN. Các DN này thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, hoạt động ở nhiều lĩnh vực và không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa mà còn cả nhu cầu quốc tế. Do đó, để bắt kịp môi trường kinh tế hội nhập đầy cạnh tranh đòi hỏi các DN không chỉ vận dụng tốt chế độ kế toán tài chính mà còn cần đến KTQT, đặc biệt là KTQT truyền thống – vốn là một khái niệm tương đối“ mới” với nhiều DN ở khu vực này. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị truyền thống tại các DNVVN trên địa bàn Tây Nguyên”.
- Làm lý luận về các công cụ KTQT truyền thống, các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các công cụ KTQT truyền thống tại các DN. - Thông qua kết quả điều tra thực nghiệm, xác định mức độ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống trong các DN trên địa bàn Tây Nguyên đề xuất các chính sách phù hợp giúp các DNVVN áp dụng tốt các công cụ KTQT truyền thống. DNVVN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau trên địa bàn Tây Nguyên.nguyen download by : skknchat@gmail. - Khảo sát, điều tra dữ liệu sơ cấp bằng bảng câu hỏi và phỏng vấn.
- Phân tích dữ liệu định lượng bằng các thống kê mô tả, phân tích hồi quy đa biến để xác định nhân tố ảnh hưởng. Nghiên cứu này cung cấp một số gợi ý cho các nhà quản trị DN, các tổ chức giáo dục quản trị kinh doanh cũng như các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam. Cụ thể, nhà quản trị DNVVN cần tạo điều kiện cho các công cụ KTQT truyền thống được sử dụng rộng rãi, đồng thời cần khuyến khích đơn vị mình sử dụng KTQT nhi quả hoạt động của DN. Đối với các tổ chức giáo dục, cần đưa v KTQT phù hợp với D cần có những chính sách phù hợp chỉ ra những ưu điểm của việc vận dụng các công cụ KTQT nói chung cũng như các công cụ KTQT truyền thống nói riêng, từ đó khuyến khích các DN áp dụng KTQT, góp phần tăng năng lực cạnh tranh cho các DNVVN trên địa bàn Tây Nguyên nói riêng, cũng như thúc đẩy sự phát triển của KTQT ở Việt Nam nói chung.
: Đề tài gồm 4 chương. Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu về KTQT và n dụng KTQT trong DN Chƣơng 2: nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách luan.nguyen download by : skknchat@gmail.nguyen 4 CHƢƠNG 1 KTQT KTQT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VỀ KTQT VÀ CÁC LÝ THUYẾT VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Những vấn đề chung về KTQT Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “KTQT là quá trình đ phạm vi nội bộ một DN”.
là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức, các nhà quản lý dựa vào thông tin KTQT để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức. Theo luật kế toán Việt Nam, KTQT được định nghĩa là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật kế toán , khoản 3, điều 4). Nói tóm lại, iệc lập kế hoạch, ra quyết định và luan.nguyen download by : skknchat@gmail.nguyen 5 kiểm soát các hoạt động của một tổ chức, giúp họ đưa ra quyết định tốt hơn (Drury, 2005). KTQT KTQT , KTQT c.
KTQT, KTQT truyền thống thông DN ( ). ( - KTQT hiện đại .nguyen download by : skknchat@gmail.nguyen download by : skknchat@gmail.nguyen 7 đặt trọng tâm vào vấn đề chiến lược của DN và dựa trên cả thông tin tài chính và phi tài chính, cả qu những thông tin này có được từ cả bên trong và bên ngoài DN Langfield-Smith, 1998; Sulaiman và cộng sự, 2004). Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu KTQT a. Lý thuyết khuếch tán và KTQT “Khuếch tán là tiến trình mà cái mới (innovation) được truyền đi thông qua những kênh nhất định theo thời gian trong một nhóm người” (Rogers, 2003, p.
“Cái mới” có thể là một ý tưởng, một công cụ hay một đối tượng được xem là mới đối với một nhóm người (Rogers, 1983). Có thể ý tưởng hay công cụ này đã được ứng dụng rồi nhưng nếu nó được ứng dụng lại trong một hoàn cảnh hay trong cùng ngữ cảnh như ở thời điểm sau đó thì cũng được xem là “cái mới” (Ax và Bjornenak, 2005). Theo đó, KTQT hoặc ngay cả KTQT truyền thống được xem là “cái mới” đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi, trong đó có Việt Nam. Vì thế, áp dụng KTQT vào các nước chuyển đổi được xem tương tự như việc áp dụng cái mới.nguyen download by : skknchat@gmail.nguyen 8 cho bi đ (Rogers, 2003).
Lý thuyết ngữ cảnh và KTQT Lý thuyết ngữ cảnh đã được phát triển và được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu KTQT. Lý thuyết ngữ cảnh có tầm quan trọng đáng kể để nghiên cứu KTQT vì nó đã thống trị kế toán được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về KTQT (Otley, 1980). Lý thuyết ngữ cảnh nghiên cứu KTQT DN trong mối quan hệ tương tác với môi trường một hệ thống KTQT thích hợp với DN phụ thuộc vào đặc điểm DN và môi trường DN không thể xây dựng một mô hình KTQT khuôn mẫu áp dụng cho tất cả các DN mà việc vận dụng KTQT vào DN phải tùy thuộc vào đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng thời phải phù hợp với cơ cấu tổ chức, quy mô DN, trình độ công nghệ sản xuất và chiến lược tổ chức trong từng giai đoạn .nguyen download by : skknchat@gmail.nguyen 9 hay quy mô DN. Điều này có nghĩa là việc xây dựng một hệ thống KTQT hiệu quả phải thích hợp với từng DN, với môi trường bên trong và bên ngoài mà DN đó đang hoạt động.
Lý thuyết ngữ cảnh được sử dụng trong nghiên cứu này để giải thích nhân tố ảnh hưởng đến việc vận KTQT truyền thống của DN Tây Nguyên. - công cụ KTQT (gồm cả công cụ KTQT hiện đại và công cụ KTQT truyền thống) ở Úc, các công cụ này được chia thành 5 nhóm dựa trên chức năng gồm dự toán tài chính, dự toán hoạt động, tính giá, đánh giá thành quả, hỗ trợ cho việc ra quyết định. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các công cụ này được sử dụng trong các công ty được khảo sát, tuy nhiên, tỉ lệ áp dụng của các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại. Pistoni và Zoni (2000) đã tiến hành một cuộc khảo sát của 86 giáo dục đại học trong số 16 quốc gia ở châu Âu.
Họ phát hiện ra rằng hầu hết các quốc gia lựa chọn các tính năng của dự toán chi phí truyền thống. Ở Ba Lan, 90% của 45 công truyền thố , 8,3% của 9 công ty chi phí tiêu áp dụng (Szychta, 2002). (2010) cao KTQT mới. Tài liệu về thực trạng vận dụng KTQT ở các nước phát triển thuộc khu vực Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu.
Gần như các nghiên cứu này đều cho thấy được sự vận dụng các công cụ KTQT truyền thống. Cụ thể nghiên cứu của Bruggeman và luan.nguyen download by : skknchat@gmail.nguyen 10 cộng sự (1996) ở các DN Bỉ đã cho thấy các công cụ KTQT truyền thống vẫn tiếp tục được sử dụng mặc dù các DN này đã hướng đến các công cụ mới như ABC hay chi phí mục tiêu. Một nghiên cứu khác của Pierce và O‟dea (1998) cũng cho thấy việc sử dụng các công cụ truyền thống cao hơn so với các công cụ mới ở các DN Ai – len. – Smith (1998) cũng nh KTQT, trong đó có một tỷ lệ tương đối cao về sử dụng KTQT truyền thống như dự toán, lập kế hoạch và đánh giá thành quả so với các công cụ mới như chi phí mục tiêu, phân tích chuỗi giá trị và ABC.
Tương tự, trong nghiên cứu về việc sử dụng các công cụ KTQT của các DN trong ngành chế biến thực phẩm và nước giải khát ở Anh, Abdel-Kader và Luther (2006) thành 5 nhóm gồm tính giá, dự toán, đánh giá thành quả, thông tin cho việc ra quyết định và phân tích chiến lược.