Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định người nông dân giữ vị trí chủ thể nòng cốt. Tính đến giai đoạn 2015-2016, cả nước đã có 1.298 trên tổng số 9.071 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương đương tỷ lệ 14,5% với số tiêu chí bình quân đạt 12 tiêu chí mỗi xã. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, công tác triển khai vẫn gặp lực cản lớn do nguồn lực cộng đồng chưa được khơi dậy toàn diện, người dân còn mang nặng tâm lý thụ động và trông chờ vào nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, một địa bàn thuần nông có diện tích tự nhiên 29.409 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 84,36% tương đương 24.808 ha và 90% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn, việc huy động nội lực từ người dân là bài toán then chốt. Đến cuối năm 2016, toàn huyện có 4 trên 13 xã đạt chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới bao gồm An Trường, Mỹ Cẩm, Tân Bình, Nhị Long Phú; trong khi 9 xã còn lại chỉ mới hoàn thành từ 11 đến 17 tiêu chí.

Nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng tham gia, phân tích định lượng các nhân tố tác động đến quyết định đóng góp của hộ gia đình tại 4 xã đại diện trên địa bàn huyện Càng Long thông qua dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2011-2015 và dữ liệu sơ cấp năm 2016. Kết quả nghiên cứu tạo lập cơ sở khoa học vững chắc giúp chính quyền địa phương ban hành các quyết sách kinh tế - xã hội phù hợp, khơi dậy tiềm năng của hơn 65% dân số trong độ tuổi lao động nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa toàn bộ các xã về đích nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng nền tảng dựa trên Thuyết hành động hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen, cùng Thuyết hành vi dự định (TPB) của Icek Ajzen ban hành năm 1991. Hai lý thuyết kinh điển này giải thích rằng hành vi tham gia đóng góp của chủ hộ chịu sự chi phối trực tiếp từ ý định hành vi, vốn được định hình bởi ba nhân tố cốt lõi: thái độ đối với chương trình, chuẩn chủ quan từ áp lực xã hội hay gia đình, và nhận thức kiểm soát hành vi dựa trên năng lực tài chính hoặc nguồn lực sẵn có.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp thang đo nấc thang tham gia công dân của Arnstein với ba cấp độ từ không tham gia, tham gia hình thức đến tham gia thực chất có quyền lực công dân, kết hợp khung phân tích 4 lĩnh vực tham gia của Cohen và Uphoff năm 1979 gồm: tham gia ra quyết định, tham gia thực hiện, tham gia hưởng lợi và tham gia đánh giá. Ba khái niệm trung tâm được vận dụng xuyên suốt gồm:

  • Hộ gia đình nông thôn: đơn vị kinh tế - xã hội cơ sở thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp chung.
  • Nông thôn mới: mô hình phát triển toàn diện theo Bộ tiêu chí quốc gia quy định tại Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT và Quyết định 491/2009/QĐ-TTg.
  • Sự tham gia đóng góp: hành động tự nguyện hoặc phối hợp đóng góp tài lực, vật lực, quyền sử dụng đất và ngày công lao động vào các công trình hạ tầng công cộng.
       +---------------------------------------------+
       |   CÁC NHÓM NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG                |
       |                                             |
       |   1. Đặc điểm hộ (Giới tính, Học vấn,       |
       |      Lao động, Nghề nghiệp, Diện hộ)        |
       |   2. Kinh tế (Thu nhập bình quân)           |
       |   3. Xã hội (Đoàn thể, Gia đình ủng hộ)     |
       |   4. Nhận thức (Minh bạch, Vai trò)         |
       +----------------------+----------------------+
                              |
                              v
       +---------------------------------------------+
       |   QUYẾT ĐỊNH ĐÓNG GÓP CỦA HỘ GIA ĐÌNH (DG)   |
       |   - Đóng góp công lao động (66,9%)          |
       |   - Đóng góp tài chính (20,6%)              |
       |   - Đóng góp đất đai (2,2%)                 |
       +---------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011-2015 của Ủy ban nhân dân huyện Càng Long, Ban Chỉ đạo Xây dựng Nông thôn mới và Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nguồn dữ liệu sơ cấp được điều tra khảo sát trực tiếp vào năm 2016 thông qua bảng hỏi cấu trúc chi tiết đối với 200 hộ gia đình tại 4 xã: Mỹ Cẩm, Nhị Long Phú, An Trường và Tân Bình. Cỡ mẫu 200 được xác định theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi ngẫu nhiên, phân bổ đều 50 hộ mỗi xã, hoàn toàn đáp ứng công thức chọn mẫu đại diện tối thiểu $n \ge 50 + 8m$ (với $m = 11$ biến độc lập, quy mô mẫu tối thiểu yêu cầu là 138 quan sát).

Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp thống kê mô tả, kiểm định chéo và mô hình hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logit). Phương pháp Logit được lựa chọn tối ưu vì biến phụ thuộc là quyết định tham gia đóng góp của hộ nhận giá trị nhị phân (nhận giá trị 1 nếu hộ có đóng góp vào ít nhất một tiêu chí và 0 nếu không đóng góp). Mô hình đo lường tác động biên của 11 biến độc lập thuộc 4 nhóm nhân tố: đặc điểm hộ gia đình (giới tính, học vấn, quy mô lao động, nghề nghiệp, diện hộ nghèo), kinh tế (thu nhập bình quân thành viên), xã hội (tham gia hội đoàn thể, sự ủng hộ của người thân) và nhận thức (tiếp cận thông tin, tính minh bạch, nhận thức vai trò chủ thể).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm trên 200 hộ dân tại huyện Càng Long làm sáng tỏ nhiều chỉ số định lượng quan trọng về hành vi kinh tế và xã hội của cư dân nông thôn:

  • Tỷ lệ tham gia và cơ cấu đóng góp: Có 68% tổng số hộ khảo sát đã trực tiếp tham gia đóng góp vào chương trình xây dựng nông thôn mới. Trong cơ cấu hình thức đóng góp, đóng góp bằng ngày công lao động chiếm tỷ trọng áp đảo với 66,9% (bình quân mỗi hộ đóng góp khoảng 800.000 đồng, tương đương hơn 5 ngày công lao động). Đóng góp bằng tiền mặt đứng thứ hai với 20,6% (bình quân 7 triệu đồng mỗi hộ, mức đóng góp phổ biến nhất là 1,2 triệu đồng), trong khi tỷ lệ hiến đất làm hạ tầng chỉ chiếm 2,2% với giá trị quy đổi từ 500.000 đến 1.000.000 đồng mỗi hộ.
  • Kênh thông tin và nhận diện vai trò: 82,5% người dân nắm bắt thông tin rõ ràng về chương trình nông thôn mới. Truyền hình là kênh tiếp cận phổ biến nhất, chiếm 84% tỷ lệ tiếp cận (với 72,5% đánh giá tiếp nhận thông tin rất rõ ràng), mạng internet chiếm 23%, hệ thống loa phát thanh xã chiếm 12%, trong khi kênh thông tin trực tiếp từ cán bộ địa phương chỉ đạt vỏn vẹn 3,5%. Đáng chú ý, có 88% hộ nhận thức được chủ thể thực hiện nhưng 100% đều cho rằng Nhà nước giữ vai trò chính, chỉ có 20,5% nhận thức rõ người dân là chủ thể trung tâm.
  • Động lực tham gia và tính dân chủ: 74% hộ tham gia đóng góp xuất phát từ sự vận động của chính quyền địa phương, 19% tham gia hoàn toàn tự nguyện và 7% tham gia do tính chất bắt buộc. Về quy chế dân chủ, 63,6% hộ cho biết các công trình tại ấp do dân bàn và dân trực tiếp quyết định, 94% người dân đánh giá thông tin tài chính và quy hoạch tại địa phương đạt tính minh bạch.
  • Tác động của vốn xã hội và sự ủng hộ gia đình: 77% số hộ có thành viên tham gia các đoàn thể chính trị - xã hội (Hội Phụ nữ chiếm 49,4%, Hội Nông dân chiếm 46,1%, Hội Cựu chiến binh chiếm 14,3%). Tỷ lệ hộ có người thân trong gia đình đồng thuận ủng hộ xây dựng nông thôn mới đạt 78,5%; trong nhóm có sự ủng hộ này, có tới 91,7% khẳng định sự tham gia của người dân đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự thành bại của chương trình.
Chỉ tiêu khảo sát Tỷ lệ / Giá trị thực tế Ý nghĩa thực tiễn
Tỷ lệ hộ tham gia đóng góp 68,0% Phản ánh sự tham gia rộng rãi của cộng đồng
Đóng góp bằng ngày công lao động 66,9% Hình thức đóng góp chủ đạo của nông hộ
Đóng góp bằng tiền mặt trực tiếp 20,6% Mức đóng góp bình quân 7.000.000 đ/hộ
Tỷ lệ hiến đất xây dựng công trình 2,2% Rào cản lớn do tâm lý giữ đất canh tác
Tiếp cận thông tin qua truyền hình 84,0% Kênh truyền thông có độ phủ sóng cao nhất
Tham gia nhờ chính quyền vận động 74,0% Vai trò then chốt của hệ thống chính trị cơ sở
Đánh giá thông tin minh bạch 94,0% Củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội

Thảo luận kết quả

Thực tế hình thức đóng góp bằng công lao động chiếm ưu thế tuyệt đối (66,9%) phản ánh đúng thực trạng kinh tế - xã hội tại huyện Càng Long. Với 72,5% chủ hộ sống dựa vào sản xuất nông nghiệp thuần túy và mức thu nhập bình quân của mỗi thành viên chỉ đạt khoảng 2,5 triệu đồng một tháng, nguồn lực tài chính khả dụng của hộ gia đình còn hạn hẹp. Do đó, người dân ưu tiên sử dụng quỹ thời gian nông nhàn và sức lao động để tham gia đắp đường giao thông, nạo vét kênh mương nội đồng thay vì đóng góp tiền mặt trực tiếp.

Khi so sánh với công trình của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự năm 2012 tại tỉnh An Giang cũng như nghiên cứu của Lê Văn Tuyển năm 2015, kết quả nghiên cứu tại Càng Long củng cố luận điểm rằng quy mô lao động, mạng lưới đoàn thể xã hội và tính minh bạch thông tin là những biến số có ý nghĩa thống kê quyết định xác suất hành vi cộng đồng. Nghiên cứu chỉ ra điểm nghẽn lớn khi có tới 75% chủ hộ chưa từng qua đào tạo nghề chuyên môn và kênh tuyên truyền từ cán bộ cơ sở chỉ đạt 3,5%, lý giải vì sao người dân còn tâm lý thụ động và 74% chỉ hành động khi có sự đốc thúc từ chính quyền.

Về mặt biểu diễn dữ liệu thực nghiệm, cơ cấu đóng góp được minh họa rõ nét qua biểu đồ tròn phân đoạn ba cấu phần (lao động 66,9%, tiền mặt 20,6%, hiến đất 2,2%), trong khi mối tương quan giữa sự đồng thuận của gia đình và nhận thức vai trò chủ thể được thể hiện tường minh qua các bảng phân tích tần số chéo, khẳng định vai trò trụ cột của tế bào gia đình trong việc khơi thông sức dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả ước lượng mô hình kinh tế lượng và thực tiễn địa phương, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm tối ưu hóa sự tham gia của người dân tại huyện Càng Long:

  • Tái cấu trúc và hiện đại hóa hệ thống thông tin truyền thông cơ sở: Ủy ban nhân dân huyện Càng Long cùng Ban Tuyên giáo các xã cần phối hợp xây dựng các bản tin chuyên đề trực quan trên hệ thống truyền thanh và mạng xã hội. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ người dân tiếp cận thông tin chính thống từ cán bộ cơ sở từ mức 3,5% hiện tại lên tối thiểu 35% trong giai đoạn 2017-2020, giúp 100% hộ dân hiểu rõ cơ chế "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng".
  • Phát huy vai trò tiên phong của các tổ chức chính trị - xã hội: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên các cấp cần lồng ghép tiêu chí xây dựng nông thôn mới vào các buổi sinh hoạt định kỳ. Các đơn vị này chịu trách nhiệm vận động hội viên, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hộ tự nguyện tham gia đóng góp từ mức 19% lên trên 55% trước năm 2020, chuyển hóa căn bản từ trạng thái bị động sang chủ động làm chủ phong trào.
  • Chuẩn hóa quy trình công khai minh bạch tài chính và giám sát cộng đồng: Hội đồng nhân dân và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng tại 13 xã thuộc huyện Càng Long phải thực hiện niêm yết công khai 100% các khoản thu chi đóng góp, dự toán và tiến độ thi công công trình tại nhà văn hóa ấp. Thời gian hoàn thiện quy chế công khai chậm nhất vào quý 2 năm 2018 nhằm duy trì chỉ số tin cậy minh bạch trên 95%, củng cố niềm tin vững chắc của người dân.
  • Đẩy mạnh đào tạo nghề nông thôn gắn với nâng cao thu nhập hộ gia đình: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Càng Long tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Kế hoạch hành động đặt mục tiêu giảm tỷ lệ chủ hộ chưa qua đào tạo nghề từ 75% xuống dưới 45% vào năm 2020, nâng mức thu nhập bình quân của thành viên hộ từ 2,5 triệu đồng lên trên 4,5 triệu đồng mỗi tháng, tạo nền tảng tài chính dồi dào để tăng mức đóng góp tiền mặt cho hạ tầng nông thôn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý Nhà nước và Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới các cấp: Tài liệu cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về tâm lý, hành vi đóng góp và các điểm nghẽn thực tế của người dân tại địa bàn cấp huyện. Use case tiêu biểu: Lãnh đạo cấp huyện và xã ứng dụng các phát hiện thực nghiệm để xây dựng đề án phân bổ ngân sách đối ứng, thiết kế kế hoạch huy động sức dân phù hợp với điều kiện thu nhập từng ấp.
  • Lãnh đạo các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại địa phương: Báo cáo giúp các hội đoàn thể nhận diện rõ tầm ảnh hưởng của mạng lưới hội viên đối với quyết định của hộ gia đình. Use case tiêu biểu: Hội Nông dân và Hội Phụ nữ xây dựng các chương trình hành động chuyên đề, mô hình đoạn đường tự quản hoặc tổ hợp tác kinh tế giúp gia tăng tinh thần tự nguyện của hội viên.
  • Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu kinh tế: Đề tài là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc ứng dụng kết hợp lý thuyết hành vi (TRA/TPB) và mô hình kinh tế lượng Binary Logit trong nghiên cứu kinh tế phát triển và quản lý công. Use case tiêu biểu: Vận dụng khung phân tích và bảng hỏi khảo sát để triển khai các đề tài nghiên cứu về hành vi cộng đồng tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Các tổ chức phát triển nông thôn và tổ chức phi chính phủ: Luận văn cung cấp cái nhìn thực tế về cơ cấu sinh kế, tập quán sinh hoạt và mức độ sẵn sàng hợp tác của cộng đồng dân cư nông thôn Tây Nam Bộ. Use case tiêu biểu: Hoạch định các dự án hỗ trợ kỹ thuật, nước sạch sinh hoạt, vệ sinh môi trường và nâng cao năng lực tự quản cho nông hộ nghèo.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nào giữ vai trò quyết định mạnh nhất đến khả năng đóng góp của hộ gia đình?

Sự đồng thuận của người thân trong gia đình và sự vận động từ các tổ chức đoàn thể là hai yếu tố mang tính quyết định. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng 78,5% hộ có người thân ủng hộ thì có tới 91,7% nhận thức vai trò tham gia là quan trọng, đồng thời 77% hộ có thành viên sinh hoạt hội đoàn thể đều tích cực tham gia các phong trào địa phương.

Vì sao tỷ lệ đóng góp bằng ngày công lao động lại vượt trội so với tiền mặt và đất đai?

Đặc thù kinh tế huyện Càng Long có 72,5% chủ hộ làm nông nghiệp với thu nhập bình quân thành viên chỉ đạt 2,5 triệu đồng một tháng. Do nguồn tích lũy tài chính còn thấp và tâm lý giữ đất canh tác, việc đóng góp bằng ngày công (chiếm 66,9%) là phương thức phù hợp nhất với năng lực thực tế của người nông dân.

Kênh truyền thông nào đạt hiệu quả tiếp cận cao nhất đối với cư dân nông thôn?

Chương trình truyền hình là kênh truyền thông hiệu quả nhất với 84% người dân tiếp cận thông tin (trong đó 72,5% hiểu rất rõ ràng). Ngược lại, kênh tiếp xúc trực tiếp từ cán bộ cơ sở chỉ đạt 3,5%, đòi hỏi địa phương phải nhanh chóng đổi mới phương thức tuyên truyền miệng tại các buổi sinh hoạt chi tổ hội ấp.

Tính minh bạch tài chính có tác động như thế nào đến mức độ tham gia của cộng đồng?

Tính minh bạch là nền tảng cốt lõi củng cố niềm tin. Khi 94% người dân đánh giá thông tin công trình minh bạch và 63,6% khẳng định công trình do dân trực tiếp bàn bạc, quyết định, tỷ lệ tham gia đóng góp chung toàn huyện đã đạt mức ấn tượng 68%, giảm thiểu tối đa các khiếu nại tại cơ sở.

Chính quyền địa phương cần làm gì để chuyển đổi tâm lý tham gia từ thụ động sang tự nguyện?

Chính quyền cần thực thi nghiêm túc quy chế dân chủ cơ sở, phân quyền cho người dân trực tiếp lựa chọn danh mục công trình ưu tiên. Đồng thời, cần đẩy mạnh đào tạo nghề để nâng thu nhập từ 2,5 triệu lên 4,5 triệu đồng mỗi tháng, giúp tăng tỷ lệ tự nguyện từ 19% lên trên 55% trước năm 2020.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Càng Long với 68% số hộ thực hiện đóng góp nguồn lực cụ thể.
  • Xác định rõ cơ cấu đóng góp mang tính đặc thù với 66,9% bằng ngày công lao động, 20,6% bằng tiền mặt và 2,2% bằng hình thức hiến đất.
  • Khẳng định vai trò then chốt của sự vận động từ hệ thống chính trị (74%) cùng tính minh bạch của thông tin công trình (94%) trong việc tạo lập niềm tin công dân.
  • Chứng minh mối quan hệ tương quan thuận chặt chẽ giữa sự tham gia hội đoàn thể (77%), sự ủng hộ của gia đình (78,5%) đối với nhận thức vai trò chủ thể của người dân.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp tuyên truyền, phát huy vai trò đoàn thể, minh bạch hóa tài chính và đào tạo nghề nâng cao thu nhập hộ gia đình.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp hệ thống luận cứ khoa học định lượng về các nhân tố tác động đến hành vi kinh tế của hộ nông dân, xóa bỏ khoảng trống giữa chính sách vĩ mô và thực tiễn cơ sở tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương hoàn thiện quy chế giám sát đầu tư cộng đồng trong năm 2017-2018 và triển khai toàn diện các đề án hỗ trợ sinh kế đến năm 2020. Các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học và các cấp quản lý cần tiếp tục tham khảo, nhân rộng mô hình nghiên cứu này nhằm thúc đẩy công cuộc xây dựng nông thôn mới phát triển văn minh, hiện đại và bền vững.