Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện càng long tỉnh trà vinh

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại Càng Long, Trà Vinh.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Đề tài 'Nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại Trà Vinh' tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến sự tham gia của hộ gia đình trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Tại Trà Vinh, sự tham gia của người dân là yếu tố quyết định cho sự thành công của chương trình này. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc phát triển nông thôn không chỉ dựa vào chính sách từ Nhà nước mà còn cần sự đóng góp tích cực từ cộng đồng. Các nhân tố ảnh hưởng như tình hình kinh tế, xã hội, và nhận thức của người dân về chương trình là những yếu tố quan trọng cần được xem xét. Đặc biệt, việc hợp tác xã nông nghiệpđào tạo nông dân cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của hộ gia đình.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh Trà Vinh đang triển khai mạnh mẽ chương trình xây dựng nông thôn mới. Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng kinh tếxã hội tại địa phương, nơi mà nhiều hộ gia đình vẫn còn gặp khó khăn trong việc tham gia vào các hoạt động xây dựng nông thôn. Việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ gia đình sẽ giúp các nhà quản lý có cái nhìn sâu sắc hơn về thực trạng và từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp. Đặc biệt, việc nâng cao động lực tham gia của người dân là rất cần thiết để đảm bảo sự thành công của chương trình.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới. Các yếu tố này có thể được chia thành nhóm như: đặc điểm hộ gia đình, tình hình kinh tế, và nhận thức xã hội. Đặc điểm hộ gia đình như quy mô, trình độ học vấn, và nghề nghiệp có thể ảnh hưởng đến khả năng tham gia. Tình hình kinh tế của hộ gia đình cũng là một yếu tố quan trọng, khi hộ gia đình có thu nhập cao hơn thường có xu hướng tham gia nhiều hơn. Cuối cùng, nhận thức về lợi ích của chương trình và sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự tham gia của người dân.

2.1. Đặc điểm hộ gia đình

Đặc điểm của hộ gia đình như quy mô, trình độ học vấn, và nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn đến sự tham gia vào chương trình xây dựng nông thôn mới. Hộ gia đình có trình độ học vấn cao thường có khả năng nhận thức tốt hơn về lợi ích của chương trình, từ đó thúc đẩy sự tham gia. Ngoài ra, quy mô hộ gia đình cũng ảnh hưởng đến khả năng đóng góp tài chính và nhân lực cho các hoạt động xây dựng nông thôn. Việc phân tích các đặc điểm này sẽ giúp xác định nhóm đối tượng cần được hỗ trợ và khuyến khích tham gia nhiều hơn.

2.2. Tình hình kinh tế

Tình hình kinh tế của hộ gia đình là một trong những yếu tố quyết định đến sự tham gia vào chương trình xây dựng nông thôn mới. Hộ gia đình có thu nhập cao hơn thường có khả năng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xây dựng, từ việc đóng góp tài chính đến việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động. Ngược lại, những hộ gia đình có thu nhập thấp thường gặp khó khăn trong việc tham gia do thiếu nguồn lực. Việc cải thiện tình hình kinh tế cho các hộ gia đình sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ tham gia vào chương trình.

III. Giải pháp thúc đẩy sự tham gia

Để nâng cao sự tham gia của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính quyền và cộng đồng. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường đào tạo nông dân về các kỹ năng cần thiết để tham gia vào các hoạt động xây dựng. Bên cạnh đó, việc tạo ra các chính sách nông thôn phù hợp, khuyến khích sự tham gia của người dân cũng rất cần thiết. Các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về lợi ích của chương trình cũng cần được thực hiện thường xuyên để khuyến khích người dân tham gia.

3.1. Đào tạo và nâng cao nhận thức

Việc đào tạo nông dân về các kỹ năng cần thiết là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao sự tham gia của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới. Các khóa đào tạo có thể tập trung vào các lĩnh vực như sản xuất nông nghiệp, quản lý tài chính, và kỹ năng lãnh đạo. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức về lợi ích của chương trình cũng rất cần thiết. Các hoạt động tuyên truyền có thể được thực hiện thông qua các buổi hội thảo, tọa đàm, hoặc các phương tiện truyền thông để người dân hiểu rõ hơn về vai trò của mình trong việc xây dựng nông thôn mới.

3.2. Chính sách hỗ trợ

Các chính sách nông thôn cần được thiết kế để khuyến khích sự tham gia của người dân vào chương trình xây dựng nông thôn mới. Chính quyền địa phương có thể xem xét việc cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính cho các hộ gia đình tham gia vào các hoạt động xây dựng. Ngoài ra, việc tạo ra các cơ hội việc làm và tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng sẽ góp phần nâng cao sự tham gia của người dân. Các chính sách này cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả để đạt được kết quả tốt nhất.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện càng long tỉnh trà vinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, Nghị định 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2014 của Chính Phủ Việt Nam ). Theo Trần Tiến Khai, (2015), sự khác biệt ở khía cạnh không gian, lãnh thổ, điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của vùng nông thôn so với thành thị được thể hiện qua các đặc trưng riêng biệt tổng quát sau: Dân số: Ở nông thôn có quy mô dân số, mật độ thấp, dân cư sống rãi rác, thưa thớt. Không gian lãnh thổ: Nông thôn có lãnh thổ rộng lớn, nhiều vùng địa lý đa dạng. Điều kiện tự nhiên: Nông thôn là vùng không gian mở, đa dạng điều kiện tự nhiên, đát , nước, rừng, khí hậu, sinh cảnh môi trường.

Nông thôn là nơi có nguồn tài nguyên tự nhiên sinh học, tính đa dạng sinh học cao, phong phú về sinh thái và cảnh quan thien nhiên đẹp. Hoạt động kinh tế: Ở nông thôn chủ yếu sản xuất nông nghiệp: các hoạt động sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và gắn với các điều kiện tự nhiên. Thu nhập nông thôn thấp: Hoạt động kinh tế kém đa dạng, tính rủi ro cao, lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị chênh lệch khá lớn. Hạ tầng cơ sở kỹ thuật: Nông thôn có hệ thống giao thông, bến cảng, kho bãi, cơ sở hạ tầng, viễn thông liên lạc còn yếu kém phát triển.

Hạ tầng xã hội: Ở nông thôn còn kém phát triển, hệ thống cơ sở dịch vụ công cho giáo dục, y tế còn hạn chế. Mặt bằng dan trí thấp. Văn hóa: Nông thôn mang nét văn hóa truyền thống và bản địa, các phong tục, tập quán cổ truyền mang tính đặc thù theo từng địa phương. Theo Ellis và Biggs (2001), Nimal (2008) đều cho rằng khái niệm phát triển nông thôn đã có nhiều thay đổi qua các thập kỷ.

Quan điểm phát triển nông thôn thay đổi qua nhiều thập kỷ: 9 Thập niên 50 - 60 mục tiêu chính PTNT chỉ là phát triển SXNN nhằm cải thiện điều kiện sống, tăng thu nhập, phát triển sao cho phù hợp các nguồn lực. Thập niên 1970, giai đoạn này đề cập đến chính sách phát triển chủ yếu tập trung tăng cường phát triển SXNN dưới dạng nông nghiệp quy mô nhỏ. Từ thập niên 1970 trở đi hoạt động phát triển tổng hợp từ nhiều ngành kinh tế như: Nông nghiệp, thương mại, công nghiệp so với trước đó thì phát triển tổng hợp chỉ tập trung vào người nghèo. Thập niên 80 - 90, tiếp cận PTNT từ trên xuống, với đặc trưng công nghệ từ bên ngoài và chính sách ở cấp độ quốc gia thay đổi theo hướng ngược lại từ dưới lên (còn gọi là tiếp cận"quá trình", nhấn mạnh việc trao quyền cho dân).

Từ 2000 đến nay PTNT gắn với mục tiêu giảm nghèo, dựa trên tiếp cận lý thuyết sinh kế bền vững, việc giảm nghèo là trọng tâm cốt yếu, khuynh hướng tiếp cận từ hướng nghèo đơn chiều sang tiếp cận nghèo đa chiều. Theo Dower (2001) có định nghĩa sau: “ Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững, có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương”. Theo Lazdinis (2006) cho rằng khái niệm phát triển nông thôn đươc cộng đồng châu Âu xem là quan điểm mới thể hiện ở các mục tiêu về cải thiện năng lực cạnh tranh của nông lâm nghiệp bằng cách hỗ trợ việc tái cấu trúc, phát triển và đỏi mới; mục tiêu về cải thiện môi trường và cảnh quan nông thôn qua việc hỗ trợ quản lý đất đai; mục tiêu cải thiện chất lượng đời sống nông thôn, khuyến khích đa dạng hóa sinh kế. Theo USA (2006) định nghĩa phát triển nông thôn là “cải thiện các điều kiện của cộng đồng nông thôn một cách tổng thể, bao gồm kinh tế và chất lượng cuốc sống ở các phương diện khác như môi trường, sức khỏe, cơ sở hạ tầng và nhà ở.

IFAD (2009) dựa trên quan điểm lãnh thổ đề xuất khái niệm phát triển nông thôn dựa vào CĐ, đề cao sự tự chủ của CĐ trong tiến trình phát triển nông thôn. Theo Nimal (2008) diễn giải rằng mô hình Phát triển nông thôn dành cho mọi người được bao gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và chính trị tạo ra năng lực và cơ hội đẻ tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển, tạo ra năng lực và cơ hội để tham gia vào quá trình chính trị, phát triển xã hội toàn diện. Theo tổ chức hợp tác phát triển kinh tế OEDC (2007) thì việc phát triển nông thôn có ba phương diện: Lãnh thổ, chủ đề phát triển & thời gian. Phương diện lãnh thổ tương ứng với không gian, phát triển nông thôn là một khái niệm thuộc về không gian, khái niệm đa ngành và có liên quan đến vấn 10 đề nhân khẩu học, kinh tế, xã hội và môi trường.

điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của tính tổng hợp theo chiều ngang, phối hợp giữa các ngành các họt động và chính sách. Phương diện thời gian thì khái niệm này mang tính động. Theo Trần Tiến Khai, (2015), nói một cách khác hơn các khái niệm hiện đại về phát triển nông thôn chú trọng gần như bốn vấn đề cốt lõi như sau: Về kinh tế: Phát triển một nông thôn đa dạng hóa nghề nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội công ăn việc làm, tạo ra giá trị gia tăng cho vùng. Về Văn hóa - xã hội: Gìn giữ lưu truyền, tái hiện, xây dựng nét văn hóa truyền thống đậm chất tôn vinh tinh thần cội nguồn dân tộc dựa trên các nền tảng xã hội.

Về chính trị và thế chế: Đảm bảo quyền tự chủ, sở hữu cộng đồng, đảm bảo cơ chế phân quyền và thể chế hóa sự tham gia công chúng, tính trật tự an ninh chính trị, cơ chế gọn nhẹ đáp ứng nguyện vọng mong đợi của công chúng, thúc đẩy được sự tự chủ trong việc năm bắt các cơ hội tiếp cận công bằng các quyền lợi trong hầu hết các dịch vụ. Về Môi trường: Phát triển nông thôn với sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo việc quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên mang tính bền vững nhất định nhằm tạo ra các thỏa ước sử dụng mang tính công cộng. Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn. Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lí của xã hội học nông thôn - đô thị.

Trong đó, những tiêu chí quan trọng giúp cho việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005). Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn.

Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định vì vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị. Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005). 11 Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên Hiệp Quốc đã đề cập đến một khái niệm CONTIUM nông thôn - đô thị. Có thể hiểu nông thôn - đô thị là một khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẻ nhau.

Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn thành thị là các thành phố lớn, vừa, hoặc các khu công nghiệp tập trung (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005). Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới gốc độ quản lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).

Theo Hoàng Văn Định và Vũ Đình Thắng (2002), nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn. Người nông dân Việt Nam có trình độ dân trí chưa cao, trình độ tiếp cận với công nghệ còn thấp gắn với nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, sản xuất tự cấp tự túc và kỹ thuật canh tác còn nhiều lạc hậu. Về phương diện kinh tế, nông thôn bao gồm cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghệ và hạ tầng cơ sở (Đỗ Kim Chung, 2009). Nông thôn chủ yếu với kinh tế nông nghiệp và đây là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.

Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản. Theo nghĩa rộng, nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Theo Đặng Kim Sơn (2008), nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại Trà Vinh" phân tích các yếu tố quyết định sự tham gia của các hộ gia đình trong chương trình xây dựng nông thôn mới, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình. Các yếu tố như nhận thức, điều kiện kinh tế, và sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương được nhấn mạnh là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình thực tế tại Trà Vinh mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của cộng đồng trong việc phát triển nông thôn.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh", nơi cung cấp các giải pháp cụ thể cho việc phát triển nông thôn mới. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường giải pháp huy động các nguồn lực phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách huy động nguồn lực cho chương trình này. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường giải pháp huy động nguồn lực thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc" cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu thêm về các chiến lược huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới.