Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công công trình của nhà thầu Chương 3: Thiết kế và nghiên cứu chi tiết Chương 4: Kết quả nghiên cứu những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị. luan an 12 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu Để việc nghiên cứu được tiến hành có hiệu quả, hàng chục các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước có liên quan đến đấu thầu, liên quan đến dịch vụ tư vấn, dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình,. và những nghiên cứu có liên quan đến mô hình nhân tố tác động đến hành vi của tổ chức đối với việc mua sắm, cung cấp hàng hóa và dịch vụ tư vấn đã được NCS đọc và tham khảo.
Sau đây, là tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước, khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Đã có hàng chục công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề “Nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu của nhà thầu” và “đấu thầu”, trong đó có thể chia ra thành các công trình nghiên cứu theo các chủ đề sau. Các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu Nhiều lý thuyết về hành vi của tổ chức đã được giáo sư Laurie J. Mullins, trường Kinh doanh Portsmouth của Vương quốc Anh đề cập đến trong công trình “Quản lý và hành vi tổ chức - Management and Organizational Behavior” phát hành năm 2007.
Học tập công trình nghiên cứu này, NCS thấy được tính phức tạp của việc điều hành một tổ chức, mà ở đó có những cá nhân, các nhóm nhỏ riêng biệt nhưng hành động như một đơn vị thống nhất, mà ở đó người đứng đầu hoặc người được ủy quyền giữ vai trò trung tâm. Họ có trách nhiệm là người ra quyết định của cả tổ chức. Quyết định của một tổ chức là một quá trình phức tạp, chịu tác động của rất nhiều nhân tố từ chủ quan đến khách quan, từ tác động bên ngoài đến khí chất của người dứng đầu. Nhưng cuối cùng, quyết định được người đứng đầu đưa ra được xem là quyết định của cả tổ chức.
Theo quan điểm của giáo sư Laurie J. Mullins, quyết định của một tổ chức thường bị chi phối bởi nhà ra quyết định với hai khía cạnh (tổ chức và cá nhân) không bị tách rời. Khía cạnh tổ chức của người ra quyết định chính là sự đại diện của tổ chức của người ra quyết định. Những quyết định mà họ đưa ra là dựa trên những tác động của tổ chức như mong đợi của tổ chức, năng lực của tổ chức hay những cơ chế chính sách tác động của tổ chức.
Khía cạnh cá nhân của người ra quyết định cũng ảnh hưởng đến quyết định của tổ chức là việc nhứng quyết định của tổ chức phần nào đó chịu ảnh hướng của chính cá nhân người ra quyết định của tổ chức như cảm nhận của chính cá nhân người ra quyết định về cơ hội thành công hay thất bại khi ra quyết định của tổ luan an 13 chức mà mình là người đại diện. Đây là tính hai mặt của quyết định của người đại diện hợp pháp nhà thầu cần được nghiên cứu áp dụng trong công trình nghiên cứu này. Công trình thứ hai được người nghiên cứu tìm đọc để học tập là những hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới về mua sắm như cuốn “Hướng dẫn mua sắm tháng 1 năm 2011 của Ngân hàng Thế giới - Procurement Guilines of Goods, Works and Non-Consulting service, Jan 2011”. Hướng dẫn này của Ngân hàng Thế giới cùng với sự tư vấn của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới đã là nền móng cho những quy định pháp luật về đấu thầu ở Việt Nam.
NCS tìm hiểu cuốn hướng dẫn này để thấy được các khái niệm, các quy định về đấu thầu khi đấu thầu các gói thầu có sử dụng vốn vay, vốn tài trợ của Ngân hàng thế giới. Những công trình nghiên cứu về “nhân tố tác động đến hành vi của cá nhân, tổ chức” được tìm đọc và khai thác phục vụ cho công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh như các công trình: Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action), lý thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior), Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model). Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) được các nhà khoa học Fishbein và Ajzen nghiên cứu và giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1967, tiếp tục được sửa đổi và hoàn thiện vào các năm 1975, 1987 và 1991. Theo lý thuyết này: Yếu tố quan trọng nhất quyết định hành vi của con người là niềm tin của người đó đối với sản phẩm, dịch vụ.
Lý thuyết trên chỉ ra rằng: quyết định hành vi thực sự của một chủ thể chịu sự tác động trực tiếp bởi niềm tin của họ đối với những thuộc tính của sản phẩm, dịch vụ sẽ mang lại giá trị cho họ khi họ hướng hành vi của mình đến để có được sản phẩm, dịch vụ đó. Vì vậy, trước khi thực hiện hành vi, các chủ thể thường đánh giá các khả năng xẩy ra trên cơ sở đánh giá các nhân tố tác động. Xác định được mức độ tin tưởng của chủ thể đối với hành vi của họ sẽ đánh giá được khả năng tham gia thực hiện các hành vi đó. Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến việc quyết định của chủ thể, quyết định của họ còn phụ thuộc vào các nhân tố chủ quan của chủ thể thông qua quan niệm và niềm tin của các nhóm tham khảo đối với sản phẩm, dịch vụ.
Lý thuyết hành vi dự định TPB được nhà khoa học Ajzen (1991) phát triển trên nền tảng của lý thuyết hành động hợp lý TRA do chính ông và nhà khoa học Fishbein công bố năm 1975. Lý thuyết hành vi dự định cho rằng một hành vi có thể được dự báo trước hoặc được giải thích nhờ nhận thức được các xu hướng hành vi bao gồm các nhân tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi và nhân tố mới được ông đưa vào là nhân tố kiểm soát hành vi cảm nhận. Mô hình lý thuyết hành vi dự định TPB có ưu điểm hơn lý thuyết TRA là đã bổ sung vào mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận. Hạn chế của lý thuyết TPB là vẫn có một khoảng cách đáng kể giữa các đánh giá về ý luan an 14 định hành vi và hành vi thực tế được đánh giá.
Mô hình chấp nhận công nghệ TAM được Nhà khoa học Davis và các cộng sự phát triển vào năm 1986 và được hoàn thiện sau hai lần vào các năm 1989 và 1993. Mô hình ra đời năm 1986 được gọi là TAM 1, và mô hình hoàn thiện sau hai lần hoàn thiện được gọi là TAM 2. Theo mô hình TAM, hành vi và thái độ của một chủ thể có quan hệ nhân quả với nhau. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM 1 thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa tính hữu dụng, sự dễ dàng sử dụng của công nghệ và thái độ của người sử dụng đối với công nghệ đó.
Theo mô hình này, hành động (quyết định) của một chủ thể để thực hiện một việc gì đó phụ thuộc vào mong đợi của người đó đối với công việc nào đó. Về cơ bản, Thuyết hành động hợp lý TRA và mô hình TAM có nhiều điểm chung khi nói đến tác động của các nhân tố đến hành vi thực sự của một chủ thể. Điểm khác biệt là ở chỗ mô hình chấp nhận công nghệ TAM cho rằng hành động của một chủ thể chủ yếu do nhân tố thái độ của chủ thể có được nhờ cảm nhận về tính hữu dụng và việc dễ dàng sử dụng của sản phẩm, dịch vụ. Tác động của biến môi trường, bên ngoài là không lớn, gián tiếp.
Những công trình nghiên cứu gần chủ đề nghiên cứu Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến “nhân tố ảnh hưởng đến quyết định có hay không tham dự đấu thầu của nhà thầu” như công trình nghiên cứu của nhà khoa học Anna Zarkada-Fraser (2000); công trình nghiên cứu của ba nhà khoa học Adnan Enshassi, Sherif Mohamed và Ala’a El Karrit (2005); và công trình nghiên cứu của Jaakko Lemberg (2013) và một số công trình nghiên cứu đã công bố khác. Nghiên cứu rất quan trọng, nền tảng cho nghiên cứu của NCS là công trình nghiên cứu có tên tiếng Anh là “A Classification of Factors Influencing Participation in Collusive Tendering Agreements” của tác giả Anna Zarkada-Fraser trên tạp chí Journal of Business Ethic số 23, xuất bản tháng 2/2000, trang 269-282. Mô hình nghiên cứu được tác giả Anna Zarkada-Fraser đưa ra được thể hiện qua hình 1. luan an 15 Các nhân tố nội tại: Các nhân tố bên ngoài: - Hiệu quả - Môi trường chung: (Các quy định của luật pháp; - Các đặc điểm cá nhân Các tiêu chuẩn xã hội; Các chế tài xử phạt).
- Nhận thức, kinh nghiệm - Môi trường ngành: (Các tiêu chuẩn; quy định; chế tài của ngành) - Môi trường tổ chức Bên mời thầu: (Chế tài xử Hành động dự kiến phạt; văn hóa tổ chức; sức ép thực hiện gói thầu). Các nhân tố đến từ gói thầu: Đánh giá đạo đức - Sức cuốn hút của gói thầu; - Tính hữu dụng của gói thầu; Quyết định chính thức - Khả năng thành công của gói thầu Tác động từ các thông tin về: Hành động - Thị trường - Các đối thủ cạnh tranh Kinh nghiệm Hình 1.1: Mô hình nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu tại Úc Nguồn: Nghiên cứu của Anna Zarkada-Fraser (2000) Nghiên cứu của tác giả Anna Zarkada-Fraser đã thực hiện điều tra thực nghiệm thăm dò liên quan đến một mẫu 150 cá nhân đại diện cho các tổ chức xây dựng lớn nhất ở Úc về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham dự thầu (dưới hình thức thông đồng trong đấu thầu). Mô hình nghiên cứu do Anna Zarkada và Fraser phát hiện là phù hợp với mô hình nghiên cứu của NCS.