Tổng quan về luận án

Nghiên cứu của tác giả Trần Mạnh Linh (2019) tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài "Những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu" (Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Mã số: 9340101, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Trương Đoàn Thể và TS. Trần Thị Hồng Việt) đã giải quyết một vấn đề cấp bách trong quản trị mua sắm công tại Việt Nam. Kể từ khi chuyển đổi từ cơ chế cấp phát theo kế hoạch tập trung sang cơ chế đấu thầu thị trường theo tinh thần Đổi mới năm 1986, bắt đầu bằng Nghị định số 43-CP (1996) với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và hoàn thiện qua Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, hoạt động đấu thầu dịch vụ tư vấn đã phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, thực tiễn nảy sinh một nghịch lý nghiêm trọng: tình trạng đăng ký tham gia thì nhiều nhưng nộp hồ sơ thực tế lại rất ít, làm suy giảm tính cạnh tranh minh bạch của thị trường.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được xác định là: Trong khi các công trình quốc tế và trong nước chủ yếu tập trung vào đấu thầu xây lắp quy mô lớn hoặc mua sắm hàng hóa (Adnan Enshassi et al., 2005; M. Ravanshadnia et al., 2011; Jaakko Lemberg, 2013), hoàn toàn vắng bóng các công trình hàn lâm thực nghiệm lượng hóa hành vi ra quyết định tham dự thầu trong phân khúc dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình (TVGS TCXDCT) – một loại hình dịch vụ vô hình, đòi hỏi hàm lượng tri thức và trách nhiệm pháp lý cao.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu (RQ) và giả thuyết nghiên cứu (H) được xác lập:

  • RQ1: Quyết định tham dự đấu thầu của nhà thầu tư vấn được cấu trúc và biểu hiện hành vi như thế nào?
  • RQ2: Những nhân tố nào chi phối quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ TVGS TCXDCT tại Việt Nam?
  • RQ3: Mức độ tác động, chiều hướng và thứ tự ưu tiên của các nhân tố này đối với hành vi của nhà thầu ra sao?
  • RQ4: Nguyên nhân nào dẫn đến khoảng cách giữa số lượng nhà thầu mua hồ sơ mời thầu (HSMT) và số lượng thực nộp hồ sơ dự thầu (HSDT)?

Các giả thuyết trọng tâm bao gồm:

  • H1: Sức hấp dẫn của gói thầu (SHDGT) có tác động tích cực đến quyết định tham dự thầu (QDTDT).
  • H2: Mong đợi của nhà thầu (MDCNT) có tác động tích cực đến QDTDT.
  • H3: Năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu (NLKN) có tác động tích cực đến QDTDT.
  • H4: Quy định và thưởng (QDVT) có tác động tích cực đến QDTDT.
  • H5: Khung khổ Luật pháp (LP) có tác động tích cực đến QDTDT.
  • H6: Giá trị và niềm tin (GTNT) tác động đến nhận thức tham dự thầu.
  • H7: Cảm nhận của người ra quyết định (CN) tác động đến QDTDT.
  • H8: Thông tin đăng ký tham dự thầu của các nhà thầu đối thủ (TTDK) có tác động đáng kể đến QDTDT.

Khung lý thuyết tích hợp được xây dựng dựa trên Thuyết Hành vi Tổ chức (Laurie J. Mullins, 2007), Thuyết Hành động Hợp lý (TRA - Fishbein & Ajzen, 1975), Thuyết Hành vi Dự định (TPB - Ajzen, 1991) và Mô hình Chấp nhận Công nghệ mở rộng (TAM - Davis, 1989). Nghiên cứu khảo sát thực trạng 100 gói thầu tư vấn mỗi năm trong 3 năm liên tiếp (2014-2016, tổng cộng 300 cuộc thầu) và điều tra khảo sát định lượng quy mô lớn trên mẫu 1.503 đại diện pháp lý của các nhà thầu tại Hà Nội, thu về 272 phiếu hợp lệ giai đoạn 2017-2019. Đóng góp đột phá của công trình là giải mã cơ chế tâm lý - tổ chức chi phối quyết định đấu thầu và xác lập thang đo thực nghiệm mới cho ngành xây dựng Việt Nam.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế cho thấy các luồng nghiên cứu chính về hành vi tham gia đấu thầu phân hóa rõ rệt:

Luồng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào hành vi phi chính thức và thông đồng đấu thầu (collusive tendering). Tiêu biểu là công trình của Anna Zarkada-Fraser (2000) trên Journal of Business Ethics (Australia) khảo sát 150 nhà thầu xây dựng (72 phản hồi hợp lệ), xác định 7 nhân tố gồm: Sức hấp dẫn gói thầu, Mong đợi của nhà thầu, Luật pháp, Giá trị và niềm tin, Cảm nhận người ra quyết định, Quy định và trừng phạt, cùng Tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Mô hình của Zarkada-Fraser phản ánh bối cảnh các nhà thầu thỏa thuận ngầm chia sẻ lợi ích phi pháp.

Luồng nghiên cứu thứ hai xem xét các yếu tố kỹ thuật và thị trường chính quy. Adnan Enshassi, Sherif Mohamed và Ala’a El Karriri (2005) nghiên cứu 73 nhà thầu tại Dải Gaza (Palestine) trên Journal of Financial Management of Property and Construction, xác định 18 nhân tố và 72 biến quan sát chi phối quyết định thầu nhưng chỉ dừng lại ở thống kê mô tả và chỉ số tầm quan trọng tương đối (RII), thiếu kiểm định hồi quy đa biến. Jaakko Lemberg (2013) tại Đại học Twente (Hà Lan) nghiên cứu ngành viễn thông tại EMEA (Châu Âu, Trung Đông, Châu Phi) đưa ra 7 thang đo năng lực. M. Ravanshadnia et al. (2011) tại Iran phân lập 5 nhóm nhân tố với 25 biến đo lường cho các công ty xây lắp công trình.

Tồn tại tranh luận học thuật sâu sắc giữa hai trường phái: Anna Zarkada-Fraser (2000) loại bỏ hoàn toàn nhân tố "Năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu" (NLKN) khỏi mô hình vì cho rằng trong hành vi thông thầu, các bên chỉ quan tâm đến chia chác lợi nhuận định sẵn. Ngược lại, Enshassi et al. (2005) và Lemberg (2013) khẳng định năng lực kỹ thuật và tài chính là điều kiện tiên quyết. Như GS. TS Vũ Văn Hiền (12/2017) đã bình luận: "Đúng là tác giả Anna Zarkada-Fraser không cần đưa nhân tố năng lực và kinh nghiệm nhà thầu vào mô hình nghiên cứu của tác giả, vì nhà thầu ra quyết định có/không tham dự thầu các gói thầu tại Úc dưới hình thức thông thầu, nên họ chỉ quan tâm đến lợi ích mà họ có được, chứ họ đâu có cần quan tâm đến năng lực của mình đủ hay không đủ so với yêu cầu của gói thầu. Dù không đủ, họ cũng 'thắng thầu' vì đã thông thầu".

Nghiên cứu của Trần Mạnh Linh (2019) định vị chính xác tại điểm giao thoa giữa kinh tế học thể chế và quản trị hành vi trong môi trường chuyển đổi. Công trình kế thừa khung phân tích cấu trúc của Zarkada-Fraser (2000) nhưng tái cấu trúc để áp dụng cho đấu thầu cạnh tranh công khai, bổ sung nhân tố "Năng lực, kinh nghiệm" phù hợp chuẩn mực Luật Đấu thầu Việt Nam và phát hiện nhân tố mới "Thông tin đăng ký tham dự thầu" (TTDK), tạo ra bước tiến vượt bậc so với các nghiên cứu đơn thuần mô tả trước đây.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng Thuyết Quản trị và Hành vi Tổ chức của Laurie J. Mullins (2007) bằng việc cụ thể hóa "tính hai mặt của người ra quyết định". Quyết định của một tổ chức đấu thầu là quá trình tương tác phức tạp giữa khía cạnh đại diện tổ chức (năng lực, mục tiêu chiến lược, cơ chế thưởng phạt) và khía cạnh nhận thức cá nhân (trực giác, cảm nhận rủi ro, giá trị niềm tin của cá nhân lãnh đạo/người được ủy quyền).

Đồng thời, nghiên cứu tái định nghĩa và bổ sung nội hàm khoa học cho khái niệm "Quyết định tham dự đấu thầu của nhà thầu":

"Quyết định tham dự đấu thầu một gói thầu của nhà thầu là sự khẳng định 'có' hay 'không' tham dự đấu thầu gói thầu của người đứng đầu nhà thầu (hoặc người được ủy quyền). Sự khẳng định này được thể hiện bằng việc đăng ký tham dự thầu và có hồ sơ dự thầu nộp cho bên mời thầu trước thời điểm đóng thầu".

Định nghĩa này tạo nên bước chuyển biến quan trọng: chuyển đổi biến phụ thuộc từ trạng thái tâm lý trừu tượng (ý định hành vi trong TRA/TPB) sang hành vi pháp lý có thể định lượng khách quan thông qua chứng từ nộp HSDT thực tế trước thời điểm đóng thầu.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đa lý thuyết: Thuyết Hành vi Dự định (TPB) cung cấp nền tảng về thái độ và nhận thức kiểm soát; Thuyết Hành vi Tổ chức (Mullins) định hình cấu trúc chủ thể; các chuẩn mực mua sắm của Ngân hàng Thế giới (World Bank Guidelines, 2011) và Luật Đấu thầu 43/2013/QH13 thiết lập giới hạn thể chế.

Mô hình nghiên cứu bao gồm 8 nhóm nhân tố độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc:

  1. Sức hấp dẫn của gói thầu (SHDGT): 4 biến quan sát (quy mô vốn, lợi nhuận kỳ vọng, uy tín thương hiệu, tính cạnh tranh).
  2. Mong đợi của nhà thầu (MDCNT): 7-8 biến quan sát (mở rộng thị phần, duy trì việc làm cho nhân sự giám sát, củng cố quan hệ đối tác, tạo tiền đề trúng thầu tương lai).
  3. Năng lực và kinh nghiệm (NLKN): 5 biến quan sát (đội ngũ kỹ sư tư vấn có chứng chỉ hành nghề phù hợp, năng lực tài chính, kinh nghiệm giám sát công trình tương tự, tính sẵn sàng của nhân sự).
  4. Quy định và thưởng (QDVT): 2 biến quan sát (chế độ đãi ngộ nội bộ khi thắng thầu, quy chế khen thưởng dự án).
  5. Luật pháp (LP): 4 biến quan sát (tính minh bạch của hệ thống pháp lý, chế tài xử phạt hành vi vi phạm đấu thầu, tính bình đẳng trong tiếp cận thông tin).
  6. Giá trị và niềm tin (GTNT): 3-4 biến quan sát (đạo đức nghề nghiệp tư vấn, niềm tin vào sự công bằng của bên mời thầu).
  7. Cảm nhận của người ra quyết định (CN): 1 biến quan sát (trực giác và đánh giá chủ quan của lãnh đạo về cơ hội thành công).
  8. Thông tin đăng ký tham dự thầu của các nhà thầu (TTDK - Nhân tố mới): 4 biến quan sát (số lượng nhà thầu mua HSMT, danh tính đối thủ cạnh tranh, mức độ quen thuộc với đối thủ, tương quan năng lực nhận thức tại thời điểm đóng thầu).

Điều kiện biên (boundary conditions) của mô hình áp dụng cho các nhà thầu tổ chức tham gia đấu thầu rộng rãi hoặc hạn chế trong nước đối với các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, vốn ODA hoặc vốn hỗn hợp.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án tuân thủ thế giới quan thực chứng (positivism) kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp tuần tự (sequential exploratory mixed methods design). Thiết kế đa cấp độ (multi-level design) khảo sát đồng thời cấp độ doanh nghiệp (năng lực, quy mô, cơ cấu tổ chức) và cấp độ cá nhân người ra quyết định (độ tuổi, cương vị, giới tính, kinh nghiệm quản lý).

Quy mô mẫu được tính toán chặt chẽ: Dựa trên tổng thể các nhà thầu xây dựng và tư vấn đăng ký kinh doanh tại Hà Nội, nghiên cứu lập danh sách chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện với 1.503 phiếu khảo sát phát đi cho các đại diện pháp lý hoặc cá nhân được ủy quyền hợp pháp.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu trải qua hai giai đoạn chuẩn hóa:

  • Giai đoạn định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu bán cấu trúc với 10 chuyên gia đầu ngành (gồm 5 nhà khoa học đầu ngành về kinh tế/xây dựng và 5 lãnh đạo doanh nghiệp tư vấn giàu kinh nghiệm thực chiến). Minh chứng thực tế từ phỏng vấn sâu được ông Ngô Xuân Thi (Tổng Giám đốc EMICO, 8/2018) chỉ rõ: "Hoạt động tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn của các nhà thầu trong thời gian qua còn rất thụ động. Có những cuộc đấu thầu rất phù hợp với các nhà thầu nào đó, nhưng nhà thầu đó lại không tham dự, hoặc tham dự nhưng thiếu hiểu biết nên bị loại. Do vậy, bao công sức họ bỏ ra đã bị tổn thất mà không hiểu nhân tố nào tác động, và làm thế nào để tránh mắc sai lầm cho lần sau". Từ kết quả này, bảng câu hỏi sơ bộ được hiệu chỉnh qua bước điều tra thử nghiệm (pilot study).
  • Giai đoạn định lượng: Triển khai điều tra diện rộng từ tháng 4/2017 đến tháng 3/2019. Tổng số phiếu thu về là 286 phiếu, qua sàng lọc làm sạch dữ liệu thu được 272 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 18,1%).

Tam giác hóa phương pháp (triangulation) được thực thi triệt để qua việc kết hợp: dữ liệu thống kê thứ cấp 300 cuộc thầu thực tế (2014-2016), dữ liệu phỏng vấn định tính chuyên gia và dữ liệu khảo sát định lượng sơ cấp.

Data và phân tích

Dữ liệu được mã hóa và phân tích trên phần mềm chuyên dụng SPSS Statistics 22:

  • Kiểm định độ tin cậy thang đo: Tất cả các biến quan sát đều trải qua kiểm định Cronbach’s Alpha (yêu cầu hệ số $\alpha \ge 0,7$ và hệ số tương quan biến - tổng Corrected Item-Total Correlation $\ge 0,3$).
  • Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Thực hiện trích xuất hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) đạt chuẩn $> 0,5$, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê ($p < 0,001$), tổng phương sai trích (Total Variance Explained) $> 50%$, hệ số tải nhân tố (Factor Loading) $> 0,5$.
  • Phân tích nhân tố khẳng định (CFA): Kiểm định tính giá trị hội tụ và phân biệt của các thang đo, đặc biệt là nhân tố mới TTDK.
  • Phân tích tương quan Pearson & Hồi quy tuyến tính bội (MRA): Đánh giá mức độ giải thích của mô hình qua hệ số $R^2$ hiệu chỉnh, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số VIF (Variance Inflation Factor $< 2$), kiểm định phương sai sai số không đổi và phân phối chuẩn phần dư.
  • Phân tích phương sai một chiều (One-way ANOVA): Kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm nhân khẩu học (độ tuổi, vị trí quản lý, giới tính) đối với hành vi ra quyết định.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Phân hóa cơ cấu quy mô gói thầu tư vấn: Dữ liệu thực tế giai đoạn 2015-2017 chỉ ra rằng các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát có giá trị từ 200 triệu đồng trở xuống chiếm áp đảo từ 55% đến 65% tổng số lượng gói thầu tổ chức trên địa bàn Hà Nội. Tính cạnh tranh thực tế rất thấp, đa phần giá trúng thầu sát nút với giá gói thầu, tỷ lệ tiết kiệm ngân sách đạt mức không đáng kể.
  2. Nghịch lý "Sụt giảm nhà thầu tại thời điểm đóng thầu": Khảo sát 100 cuộc mở thầu mỗi năm (2014-2016) cho thấy trung bình có 04 nhà thầu mua HSMT/đăng ký sơ bộ, nhưng đến thời điểm đóng thầu chỉ có trung bình 02 nhà thầu thực sự nộp HSDT. Điều này khẳng định quyết định nộp HSDT là một quyết định chiến lược có độ trễ, chịu sự sàng lọc khốc liệt vào phút chót.
  3. Phát hiện nhân tố mới - Thông tin đăng ký tham dự thầu (TTDK): Phân tích EFA/CFA và hồi quy khẳng định TTDK là biến số giải thích quan trọng chưa từng có trong các mô hình trước đây. Khi nhà thầu tiếp cận được danh tính và số lượng đối thủ cạnh tranh đã mua HSMT, họ tiến hành cân nhắc tương quan lực lượng: nếu đối thủ quá mạnh hoặc xuất hiện dấu hiệu "quân xanh quân đỏ", xác suất nộp HSDT thực tế sẽ giảm mạnh.
  4. Trọng số tác động của các nhân tố cốt lõi: Kết quả phân tích hồi quy cho thấy các nhân tố Năng lực và kinh nghiệm (NLKN), Mong đợi của nhà thầu (MDCNT)Sức hấp dẫn của gói thầu (SHDGT) có hệ số hồi quy chuẩn hóa $\beta$ mang giá trị dương cao nhất và đạt mức ý nghĩa thống kê $p < 0,01$. Ngược lại, nhân tố Luật pháp (LP)Quy định thưởng (QDVT) đóng vai trò điều kiện nền tảng.
  5. Sự khác biệt nhân khẩu học qua One-way ANOVA: Nhóm người ra quyết định có độ tuổi trẻ hơn và giữ chức danh người được ủy quyền có xu hướng linh hoạt, chấp nhận rủi ro cạnh tranh cao hơn so với nhóm lãnh đạo đứng đầu thuộc độ tuổi lớn hơn.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Luận án mở rộng kho tàng tri thức về Quản trị Kinh doanh và Đấu thầu quốc tế bằng việc tích hợp biến số bất cân xứng thông tin đối thủ (TTDK) vào mô hình hành vi doanh nghiệp tại các nền kinh tế đang phát triển.
  • Về mặt phương pháp luận: Thiết lập bộ thang đo Likert 5 cấp độ chuẩn hóa cho 8 nhân tố với các chỉ báo định lượng rõ ràng, có thể tái lặp và ứng dụng cho các phân khúc dịch vụ kỹ thuật khác.
  • Về mặt thực tiễn doanh nghiệp: Cung cấp cho các CEO nhà thầu tư vấn ma trận đánh giá năng lực nội bộ (NLKN) và phân tích đối thủ trước khi chi ngân sách lập HSDT, tránh tình trạng tham gia dàn trải gây lãng phí chi phí cơ hội.
  • Về mặt chính sách quản lý nhà nước: Đề xuất Cục Quản lý Đấu thầu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cùng Sở KH&ĐT, UBND TP. Hà Nội đẩy mạnh hệ thống Mạng Đấu thầu Quốc gia (đấu thầu qua mạng), bảo mật tuyệt đối danh tính nhà thầu mua HSMT cho đến thời điểm mở thầu nhằm triệt tiêu hiện tượng thăm dò đối thủ và liên kết ngầm.

Limitations và Future Research

Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật:

  • Giới hạn không gian địa lý: Mẫu khảo sát tập trung chủ yếu tại thành phố Hà Nội. Mặc dù Hà Nội là trung tâm tập trung mật độ nhà thầu lớn nhất cả nước, tính đại diện cho các vùng sâu vùng xa hoặc khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam cần được kiểm chứng thêm.
  • Giới hạn loại hình gói thầu: Luận án giới hạn trong phạm vi gói thầu TVGS TCXDCT theo phương thức đấu thầu trong nước (rộng rãi và hạn chế), chưa mở rộng sang đấu thầu quốc tế (ICB) hoặc các gói thầu tư vấn lập dự án, thiết kế kiến trúc.
  • Giới hạn thiết kế nghiên cứu: Sử dụng dữ liệu cắt ngang (cross-sectional data) tại giai đoạn 2017-2019, chưa theo dõi biến động hành vi theo chuỗi thời gian dọc (longitudinal study).

Các hướng nghiên cứu tương lai:

  1. Mở rộng mô hình nghiên cứu sang các loại hình dịch vụ tư vấn phức hợp như Quản lý dự án (Project Management) và Tổng thầu EPC/Turnkey.
  2. Kiểm nghiệm mô hình so sánh giữa hai đô thị đặc biệt: Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
  3. Nghiên cứu tác động của nền tảng đấu thầu điện tử (E-procurement 4.0) đến việc giảm thiểu độ lệch hành vi của người ra quyết định.
  4. Tích hợp lý thuyết Trò chơi (Game Theory) để mô hình hóa sự tương tác chiến lược giữa các nhà thầu khi tiếp cận thông tin đăng ký thầu.

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo nền tảng cho các chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Quản lý Kinh tế và Quản lý Xây dựng tại Đại học Kinh tế Quốc dân và các viện nghiên cứu. Ước tính công trình cung cấp cơ sở trích dẫn quan trọng cho các nghiên cứu về mua sắm công tại Đông Nam Á.
  • Chuyển đổi ngành xây dựng: Giúp chuẩn hóa năng lực của các tổ chức tư vấn giám sát độc lập, nâng cao chất lượng công trình hạ tầng quốc gia, giảm thiểu thất thoát lãng phí.
  • Đổi mới chính sách công: Cung cấp luận cứ khoa học sắc bén cho các nhà hoạch định chính sách tại Quốc hội và Chính phủ trong việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Đấu thầu và các Thông tư hướng dẫn về đấu thầu qua mạng.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Giới học thuật: Tiếp cận một khung phân tích hoàn chỉnh, bộ thang đo tin cậy và giải pháp tích hợp lý thuyết tổ chức - hành vi vào kinh tế kỹ thuật.
  • Lãnh đạo doanh nghiệp tư vấn: Sở hữu công cụ lượng hóa giúp đưa ra quyết định tham dự thầu chính xác, tối ưu hóa nguồn lực tài chính và nhân sự chuyên gia.
  • Chủ đầu tư & Bên mời thầu: Nắm bắt được tâm lý và rào cản của nhà thầu để lập HSMT công bằng, minh bạch, thiết lập tiêu chí năng lực phù hợp nhằm thu hút đông đảo nhà thầu thực chất tham gia.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: Có thêm cơ sở thực nghiệm để hoàn thiện thể chế giám sát thị trường mua sắm công, bảo đảm nguyên tắc: Cạnh tranh - Công bằng - Minh bạch - Hiệu quả kinh tế.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc mở rộng Thuyết Hành vi Tổ chức của Mullins (2007) và Thuyết TPB của Ajzen (1991) bằng việc xác lập và kiểm định thành công nhân tố Thông tin đăng ký tham dự thầu của các nhà thầu (TTDK). Nghiên cứu đã chứng minh rằng hành vi của nhà thầu không chỉ phụ thuộc vào nội lực và điều kiện gói thầu, mà chịu sự chi phối quyết định bởi cấu trúc thông tin đối thủ cạnh tranh tại thời điểm chuẩn bị nộp HSDT.

2. Đột phá phương pháp luận so với các nghiên cứu tiền nhiệm? So với Anna Zarkada-Fraser (2000) (chỉ khảo sát 72 mẫu chọn thuận tiện tại Úc về thông thầu) và Adnan Enshassi et al. (2005) (chỉ dùng chỉ số RII trên 63 mẫu tại Palestine), luận án của Trần Mạnh Linh đã thực hiện quy trình tam giác hóa phương pháp chuẩn mực: kết hợp nghiên cứu 300 cuộc thầu thứ cấp, phỏng vấn sâu 10 chuyên gia và phân tích định lượng 272 mẫu sạch bằng chuỗi công cụ EFA, CFA, hồi quy đa biến MRA và One-way ANOVA trên SPSS 22.

3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất? Đó là hiện tượng sụt giảm 50% số lượng nhà thầu tại thời điểm mở thầu (từ trung bình 04 nhà thầu mua HSMT xuống chỉ còn 02 nhà thầu nộp HSDT). Nguyên nhân không nằm ở năng lực kỹ thuật mà chủ yếu do tác động của nhân tố thông tin đối thủ (TTDK): khi phát hiện sự hiện diện của các đối thủ có ưu thế vượt trội hoặc mối quan hệ ngầm với chủ đầu tư, các nhà thầu lập tức dừng việc nộp hồ sơ để bảo toàn chi phí.

4. Quy trình sao chép nghiên cứu (replication protocol) có được cung cấp rõ ràng không? Luận án cung cấp hệ thống phụ lục bảng hỏi chi tiết, thang đo Likert 5 cấp độ cho toàn bộ 8 nhân tố và tiêu chí chọn mẫu cụ thể (đại diện pháp lý của nhà thầu tổ chức). Bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng có thể áp dụng nguyên vẹn giao thức này để kiểm định tại các địa bàn khác hoặc các phân khúc tư vấn thiết kế, kiểm định.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao? Lộ trình học thuật hướng tới việc tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) từ hệ thống Mạng Đấu thầu Quốc gia để dự báo hành vi bỏ thầu, phân tích tác động của các quy định pháp luật mới và xây dựng mô hình cân bằng Nash trong đấu thầu tư vấn trực tuyến.

Kết luận

Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ của tác giả Trần Mạnh Linh (2019) đã kết tinh các giá trị học thuật và thực tiễn xuất sắc qua 5 đóng góp chủ chốt:

  1. Xác lập định nghĩa hoàn chỉnh có tính minh chứng hành vi pháp lý về "Quyết định tham dự đấu thầu của nhà thầu".
  2. Bổ sung và kiểm định thành công mô hình 8 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ TVGS TCXDCT, trong đó phát hiện đột phá nhân tố mới Thông tin đăng ký tham dự thầu (TTDK).
  3. Giải mã toàn diện thực trạng đấu thầu tư vấn tại Hà Nội giai đoạn 2014-2017 với các bằng chứng thực nghiệm về tỷ trọng 55-65% gói thầu quy mô nhỏ ($\le 200$ triệu đồng) và tính cạnh tranh thấp.
  4. Cung cấp bộ công cụ thang đo chuẩn hóa đạt độ tin cậy và giá trị khoa học cao cho phân ngành kinh tế xây dựng và quản trị kinh doanh tại Việt Nam.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cho cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư và doanh nghiệp nhằm nâng cao tính minh bạch, thúc đẩy đấu thầu qua mạng và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển.