CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về sản phẩm cho vay tiêu dùng sinh viên.1 Khái niệm về cho vay và cho vay tiêu dùng sinh viên. a) Khái niệm về cho vay: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Trong đó các tổ chức tín dụng bao gồm : + Ngân hàng thương mại + Ngân hàng hợp tác xã + Tổ chức tín dụng phi ngân hàng + Tổ chức tài chính vi mô + Quỹ tín dụng nhân dân + Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Đối tượng của quan hệ cho vay có thể là vốn tiền tệ hoặc vốn hàng hóa. Sự hoàn trả của khoản vay là đặc trưng thuộc về bản chất của hoạt động này, là dấu ấn phân biệt phạm trù cho vay với các phạm trù kinh tế khác. Mặt khác, sự hoàn trả của cho vay là quá trình quay trở về của giá trị. Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình thái hàng hóa hoặc giá trị.
Sự hoàn trả của khoản vay luôn luôn phải được bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức tín dụng. Quan hệ cho vay được cấu thành bởi 4 yếu tố: (i) Chủ thể của việc vay vốn gồm người cho vay và người đi vay. Trong một số trường hợp, bên cạnh hai chủ thể này còn có một chủ thể thứ ba xuất hiện với tư cách là người bảo lãnh. (ii) Đối tượng cho vay là quyền sử dụng (không phải là quyền sở hữu) vốn tín dụng, biểu hiện dưới dạng tiền hoặc hiện vật (hàng hóa, tài sản.
6 (iii) Thời hạn cho vay là khoảng thời gian thực hiện chuyển quyền sử dụng vốn. Nó được tính từ khi bắt đầu giao vốn cho người đi vay và kết thúc khi người cho vay nhận lại kèm một phần giá trị phụ thêm. (iv) Giá trị phụ thêm (lãi suất/ lợi tức) là giá trị bù đắp cho người cho vay do việc chuyển nhượng quyền sử dụng vốn. Cũng có thể coi đây là giá mà người đi vay phải trả do nhận quyền sử dụng vốn vay b) Khái niệm về cho vay tiêu dùng SV Lịch sử cho vay SV ra đời từ cuối những năm 1940, khi một thanh niên Colombia tên là Gabriel Betancourt ước mơ trở thành SV đại học mặc dù anh xuất thân từ một gia đình rất nghèo.
Anh đã thuyết phục người quản lý của công ty đang làm việc cung cấp cho anh ta một khoản vay để chi trả cho việc học tập của mình ở nước ngoài. Sau khi lấy được bằng, anh rất biết ơn đối với các cơ hội anh đã được hưởng lợi từ khoản vay học tập này, anh quyết định tìm cách thể chế hóa khoản vay một cách phổ biến hơn. Sau đó, anh đã thuyết phục Chính phủ Colombia thành lập Viện cho vay SV Colombia, ICETEX, vào năm 1950. Đây là Viện không chỉ có đầu tiên ở Colombia mà còn là đầu tiên trên thế giới.
Với khẩu hiệu của chương trình "Chúng tôi cho SV vay và SV trở thành người chuyên nghiệp (trong lĩnh vực, nghề nghiệp…) trả tiền trở lại cho chúng tôi". Ngày nay, các chương trình cho SV vay hoạt động tại hơn 60 quốc gia trên khắp các châu lục, cho vay SV là một cơ chế tài chính quan trọng đối với giáo dục đào tạo. Ngày nay khi xã hội phát triển học phí không còn là vấn đề gây ra quá nhiều khó khăn cho các bạn SV chính vì vậy nên hình thức cho vay tiêu dùng được các bạn SV quan tâm hơn cả. Cho vay tiêu dùng là một trong các hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, trong đó các khoản vay được cấp cho cá nhân, hộ gia đình bởi ngân hàng hoặc các công ty tài chính để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của khách hàng.
Tùy vào từng đối tượng khách hàng, mục đích vay, mức cho vay hay thời hạn cho vay,… mà tổ chức tín dụng có thể cho vay tiêu dùng có hoặc không có tài sản bảo đảm. Hiện nay, cho vay tiêu dùng thường được khách hàng cá nhân, hộ gia đình sử dụng để tài trợ cho các chi phí như mua nhà, mua xe, giáo dục, y tế, du lịch… 7 Như vậy có thể hiểu cho vay tiêu dùng SV là việc ngân hàng hỗ trợ tài chính cho các nhu cầu mua sắm, du lịch, sinh hoạt và các nhu cầu khác trong cuộc sống hàng ngày của SV 1.2 Đặc điểm của sản phẩm cho vay tiêu dùng sinh viên a) Đối tượng Học sinh, SV là khái niệm dùng để chỉ những người đang theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Ở mỗi quốc gia có quy định khác nhau về đối tượng SV được vay vốn song đa số các quốc gia trong đó có Việt Nam có quy định là những SV có khó khăn về tài chính cần được hỗ trợ từ Chính Phủ. Đó là những SV sinh sống trong những gia đình nghèo khổ, những gia đình thiếu thốn các điều kiện sống cơ bản, những gia đình không may gặp phải hoạn nạn, thiên tai, mồ côi… gọi chung là những SV có hoàn cảnh khó khăn.
Ngày nay xã hội phát triển hơn nên bên cạnh những SV có hoàn cảnh nêu trên cũng đã có các ngân hàng, các tổ chức tài chính cũng hỗ trợ cho vay SV dù SVđó vẫn đang có cuộc sống khá đủ đầy và đi vay vốn chỉ với mục đích khẳng định bản thân qua các món đồ công nghệ, hay những chuyến đi du lịch v. b) Hạn mức vay Đây là hình thức cho vay dựa trên uy tín của khách hàng để phục vụ các nhu cầu học tập, ăn, ở, đi lại, mua sắm dụng cụ học tập v. vì vậy mức cho vay thường nhỏ. Tùy theo mức độ uy tín và danh tiếng của trường mà SV vay vốn đang theo học mà ngân hàng đưa ra các hạn mức khác nhau.
c) Lãi suất Về nguyên tắc ngân hàng nào cũng muốn đưa ra lãi suất thích hợp để vừa có thể thu hút khách hàng vừa tạo lợi nhuận cho ngân hàng của mình. Đối với sinh viên, lợi nhuận cũng là thứ ngân hàng nhắm đến nhưng điều quan trọng nhất vẫn là mạng lưới khách hàng tiềm năng trong tương lai mà ngân hàng muốn xây dựng. Chính vì vậy, đối với các gói vay SV ngân hàng thường để lãi suất ưu đãi – lãi suất thấp hơn 8 so với mức lãi suất thương mại và mức chênh lệch lãi suất thường được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. d) Tài sản đảm bảo Người đi vay không có tài sản đảm bảo.
Đa phần SV muốn vay vốn nhưng họ không có điều kiện thế chấp tài sản thông thường như đất đai, nhà cửa, máy móc và các tài sản khác. Chính điều này đã làm ảnh hưởng nhiều tới khả năng tiếp cận vốn tín dụng ở khu vực tín dụng chính thức. Để việc cho vay đảm bảo sự bảo tồn và sinh lãi vốn vay cũng như đồng tiền cho vay đến với SV giải quyết nhu cầu cho vay tiêu dùng (vay để hỗ trợ chi phí cho việc nộp học phí, ăn, ở, đi lại, mua sắm dụng cụ học tập…) thì hình thức cho vay trong trường hợp này dựa trên uy tín của chính khách hàng vay, cho vay không cần tài sản đảm bảo là điều cần thiết. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi rất cao tính trách nhiệm của người đứng ra tín chấp.
Ngân hàng có thể sử dụng một số hình thức tín chấp thay cho tài sản thế chấp như: Nhóm liên đới, cho vay dựa trên uy tín và tính cách khách hàng, bảo lãnh của bên thứ ba. Trong trường hợp cho vay SV bên đứng ra tín chấp là gia đình SV. e) Kỳ hạn Đối với SV vay vốn với mục đích để chi trả cho việc học tập thì kỳ hạn thường dài bởi trong quá trình đi học SV sẽ không phải trả nợ cho đến khi SV ra trường có việc làm, có thu nhập ổn định mới bắt đầu thời gian trả nợ món vay. Mặt khác việc cho vay rộng, phân tán thành những khoản vay nhỏ nên việc thu hồi nợ cũng phải mất một khoảng thời gian dài và nhiều kỳ.
Ngược lại đối với khoản vay với mục đích khác học tập kỳ hạn lại ngắn bởi SV khi sử dụng gói vay này thường muốn bảo mật với gia đình chính vì vậy rủi ro với ngân hàng sẽ lớn hơn chính vì vậy ngân hàng muốn áp dụng kỳ hạn ngắn để buộc SV phải hoàn thành khoản vay của mình ngay khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường vì khi SV còn đang theo học ngân hàng có thể kiểm tra thông tin thời khóa biểu, bảng điểm, thông tin SV việc này cũng sẽ phần nào hạn chế được rủi ro cho ngân hàng.3 Tầm quan trọng sự cần thiết của việc cho vay tiêu dùng sinh viên. a) Đối với ngân hàng: Với việc nhắm đến đối tượng SV sẽ giúp ngân hàng mở rộng mối quan hệ với khách hàng, giúp ngân hàng có một mạng lưới khách hàng cá nhân đa dạng hơn về độ tuổi, tích cách cũng như hành vi mua hàng từ đó sẽ tăng khả năng giới thiệu và bán chéo sản phẩm trong tương lai như là tăng khả năng huy động các loại tiền gửi. Đây là nguồn vốn hết sức quan trọng giúp ngân hàng hoạt động và mở rộng kinh doanh, cũng như tăng thêm lợi nhuận tiềm năng. Hiện nay SV có thể vay vốn với thủ tục đơn giản không cần người đại diện và tài sản bảo đảm.
Chính vì vậy với số lượng SV đông đúc trên phạm vi cả nước như ngày nay lợi nhuận mà ngân hàng thu lại cũng rất đáng kể. Bên cạnh lợi nhuận cũng nhắm tới mục tiêu dài hạn trong tương lai đó chính là xây dựng hình ảnh của ngân hàng trong mắt các bạn SV những người chỉ 3 tới 4 năm nữa thôi sẽ chính thức tham gia vào các hoạt động kinh tế. Tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh từ đó phân tán rủi ro cho ngân hàng. Vì đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là rủi ro cao, phương thức được ngân hàng áp dụng để giảm thiểu rủi ro là đa dạng danh mục đầu tư, tránh tình trạng tập trung vào một đối tượng nào đó.