PHẦN MỞ ĐẦU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Trong thời gian gần đây, khởi nghiệp là xu hướng mới được Chính phủ khuyến khích và quan tâm chỉ đạo để tạo mọi điều kiện thúc đẩy phong trào khởi nghiệp. Năm 2016 được chọn là Năm Quốc gia khởi nghiệp, tinh thần khởi nghiệp được khơi dậy từ những động thái rất tích cực của một Chính phủ kiến tạo, coi nhiệm vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, với một loạt thông điệp của Chính phủ mà điển hình là Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP về nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trong đó hướng tới mục tiêu đến năm 2020, cả nước có 1 triệu doanh nghiệp hoạt động cùng với nhiều chính sách cải cách quan trọng khác trong thực thi Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014, Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”. Tuy nhiên, mặc dù Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ và thúc đẩy khởi nghiệp nhưng tỷ lệ thất bại ở các doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN) trong 2 năm gần đây vẫn chiếm tới 90% (Theo Báo điện tử của Đài tiếng nói Việt Nam).
Theo đánh giá của các chuyên gia, nguyên nhân chính khiến hoạt động khởi nghiệp chưa hiệu quả là do các DNKN gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động như thiếu vốn, thiếu cơ sở sản xuất, thiếu lao động có chất lượng, thiếu kỹ năng quản trị tài chính,… Trong đó, vốn là yếu tố vật chất quan trọng ảnh hưởng đến sự sống còn của doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Nhu cầu về vốn nổi lên như một vấn đề cấp bách, đặc biệt là đối tượng DNKN. Vấn đề đặt ra đối với các nhà quản trị DNKN là làm thế nào để huy động vốn tối ưu, thu hút các quỹ đầu tư trong và ngoài nước tham gia nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa và đạt mức tăng trưởng kỳ vọng; đối với Nhà nước là kiến tạo những chính sách hỗ trợ và cơ chế tài chính phù hợp cho DNKN phát triển, thông qua thành phần kinh tế tư nhân này tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. 2 Chính vì vậy, trong bối cảnh của Việt Nam, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của DNKN là một nhu cầu cấp thiết.
Do đó, với mong muốn tìm hiểu về DNKN, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của DNKN, đánh giá thực trạng hoạt động này từ đó tìm ra giải pháp để nâng cao khả năng huy động vốn của DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Thành Phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp cao học. Mục tiêu của đề tài 2. Mục tiêu tổng quát Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu cụ thể - Phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn của DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra những mặt đạt được và những hạn chế còn tồn tại của hoạt động này, phân tích nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó.
- Đề xuất những giải pháp thiết thực để nâng cao khả năng huy động vốn của DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh. Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn cần giải quyết những câu hỏi sau: - Nguồn vốn có vai trò như thế nào đến hoạt động của DNKN? Các nhân tố nào có ảnh hưởng khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp này? - Thực trạng hoạt động huy động vốn của DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2012-2018 ra sao? Nhân tố nào ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh? 3 - Giải pháp nào để nâng cao khả năng huy động vốn của các DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh? 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh. - Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh- một trong những trung tâm có hoạt động khởi nghiệp phát triển nhất trong cả nước.
Tuy nhiên, tác giả có sử dụng những số liệu của các nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi quốc gia mà chưa có ở cấp độ địa phương. - Thời gian nghiên cứu: Số liệu được sử dụng để phục vụ công tác nghiên cứu được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2012 – 2018. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp tổng hợp: Tìm hiểu, phân tích và tổng hợp các lý luận về DNKN. Những lý thuyết được tổng hợp trên cơ sở kế thừa lý luận từ các nghiên cứu khoa học đã thực hiện, trả lời các câu hỏi: “Cần tìm hiểu gì về loại hình DNKN và nguồn vốn có vai trò như thế nào đến hoạt động của các doanh nghiệp này? Các nhân tố nào có ảnh hưởng khả năng huy động vốn của DNKN?”.
- Phƣơng pháp thống kê: Thu thập các số liệu về tình hình hoạt động của DNKN. Số liệu thống kê được thu thập từ báo cáo của Tổng Cục Thống kê, báo cáo của Chỉ số khởi nghiệp Việt Nam của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, trang thông tin điện tử…, sau đó được phân loại và thống kê thành các bảng số liệu, biểu đồ để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Các số liệu thống kê giúp ta có cái nhìn tổng quan hơn về tình hình hoạt động và thực trạng huy động vốn của DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh. - Phƣơng pháp mô tả: Tác giả thực hiện tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng và tác động của chúng đến hoạt động huy động vốn của DNKN thông qua các nghiên 4 cứu khoa học, mô hình đã được công bố; nghiên cứu các văn bản chính sách, văn bản luật của Nhà nước để mô tả thực trạng hoạt động huy động vốn của DNKN.
- Phƣơng pháp chuyên gia: Điều tra, nghiên cứu các đánh giá của các chuyên gia về hoạt động khởi nghiệp nói chung và hoạt động huy động vốn cho DNKN nói riêng. Từ đó tìm ra phương hướng giải quyết những điểm còn hạn chế đối với hoạt động huy động vốn của DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nội dung nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sau: - Hệ thống hóa lý luận liên quan về DNKN, nhận định về vai trò của nguồn vốn đối với DNKN. - Phân tích thực trạng về hoạt động tổng thể nói chung và mảng huy động vốn nói riêng của các DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012- 2018.
Qua đó, luận văn xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp này. - Đưa ra những giải pháp sát với thực tiễn để nâng cao khả năng huy động vốn của các DNKN tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Các vấn đề về DNKN nói chung và hoạt động huy động vốn của DNKN nói riêng những năm gần đây đã thu hút sự chú ý và quan tâm của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu. Luận văn này sẽ viện dẫn một số nghiên cứu như sau: Tác giả Đặng Thị Việt Đức và Đỗ Thu Hà có bài viết “Nguồn tài chính cho các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam” được đăng trên trang điện tử của Tạp chí điện tử Tài Chính ngày 01/04/2018.
Nghiên cứu đã khái quát về khía cạnh lý thuyết và thực tiễn các nguồn tài trợ cho DNKN đồng thời phân tích thực trạng cụ thể tại Việt Nam. Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ dừng lại ở sự gợi ý về hướng phát triển hệ thống tài chính mang tính chung chung, chưa đề cập giải pháp cụ thể, sát với tình hình thực tế của DNKN; bài viết sử dụng với các thuật ngữ chuyên môn, chưa đi sâu 5 vào phần cơ sở lý luận tạo tiền đề để người đọc không có chuyên môn nắm bắt hết nội dung nghiên cứu. Liên quan đến các kênh huy động vốn của DNKN đã có nhiều bài viết như: “Chính sách tín dụng cho doanh nghiệp khởi nghiệp” của tác giả Vũ Văn Ninh và Phạm Thị Thanh Hòa đăng trên Tạp chí khoa học-công nghệ Nghệ An, số 7/2018, từ trang 52 đến trang 57; “Hoạt động ươm tạo ở Việt Nam: Một số vấn đề cần quan tâm” của tác giả Đào Quang Thủy đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 9 năm 2017, từ trang 12 đến trang 14; “Quy định pháp lý cho nhà đầu tư thiên thần” của tác giả Phan Hoàng Lan và Từ Minh Hiệu, đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 8 năm 2017, từ trang 57 đến trang 60 hay bài viết “Pháp luật về gọi vốn cộng đồng (crowdfunding): kinh nghiệm quốc tế và một số lưu ý đối với Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thúy Anh đăng trên trang điện tử của Tạp chí Đối ngoại-Trường Đại học Ngoại thương ngày 05/01/2018…Đây đều là những bài viết chuyên sâu về hoạt động huy động vốn theo các phương thức đặc trưng của DNKN, nêu ra được những ưu điểm, hạn chế và giải pháp để tối ưu hóa hiệu quả của mỗi phương thức huy động vốn. Tuy nhiên, do mỗi bài viết đề cập về một phương thức riêng biệt không được trình bày cùng với cơ sở lý luận về DNKN làm người đọc sẽ khó có cái nhìn tổng hòa các phương thức huy động vốn, nhất là khi mỗi phương thức này lại phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định của DNKN.
Tác giả Hoàng Thị Hồng có bài viết “Huy động vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam” được đăng tải trên trang điện tử Tạp chí Tài chính ngày 22/04/2018. Bài viết tổng hợp những mô hình gọi vốn khởi nghiệp ở Việt Nam, dẫn chứng những chính sách của Nhà nước, xác định những khó khăn, thách thức từ đó đề ra giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, bài viết chỉ đề cập các phương thức tiếp cận tài chính đầu tư đặc thù của DNKN nhưng lại bỏ qua một nguồn vốn rất quan trong đối với hầu hết các doanh nghiệp đó là tín dụng ngân hàng và chưa có những giải pháp để khơi thông nguồn vốn quan trọng này cho DNKN.