Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về chứng khoán và thị trường chứng khoán 2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 2.1 Khái niệm Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh,… Thị trường chứng khoán cũng là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.2 Phân loại Thị trường sơ cấp (Primary Market) Đây là thị trường mua bán các loại chứng khoán mới phát hành, còn được gọi là thị trường cấp một hoặc thị trường phát hành. Chức năng quan trọng nhất là huy động vốn cho nền kinh tế, trong đó nhà phát hành đóng vai trò là người huy động vốn, còn người mua chứng khoán đóng vai trò là nhà đầu tư. Nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế, xã hội được chuyển thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán. Thị trường thứ cấp (Secondary Market) Đây là nơi mua bán các chứng khoán đã phát hành trên thị trường sơ cấp.
Thị trường không mang lại nguồn vốn cho nhà phát hành mà là nơi chuyển đổi quyền sở hữu về vốn từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác, tạo tính thanh khoản cho chứng khoán. Nhằm mục đích cất giữ tài sản, nhận khoản thu nhập cố định hàng năm (thông qua cổ tức, trái tức,…) và để hưởng chênh lệch giá. Thị trường tập trung Thị trường tập trung là các sở giao dịch chứng khoán hoặc những nơi tương tự, ở đó chứng khoán được mua bán tập trung tại một địa điểm cụ thể và tuân theo những quy tắc xác định. Các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch, ghép lệnh hình thành nên phiên giao dịch.
Chỉ có những chứng khoán đủ tiêu chuẩn niêm yết mới được giao dịch ở đây. 4 Thị trường phi tập trung Thị trường phi tập trung không có địa điểm giao dịch chính thức, các nhà môi giới kết nối các giao dịch qua mạng máy vi tính giữa các công ty chứng khoán và trung tâm quản lý hệ thống. Thị trường phi tập trung không phải là thị trường chợ đen mà là một thị trường có tổ chức dành cho những chứng khoán chưa niêm yết trên thị trường tập trung. Thị trường trực tiếp (Direct Search Market) Thị trường trực tiếp là thị trường có tổ chức thấp nhất.
Người mua và người bán trực tiếp tìm kiếm nhau. Thị trường này có đặc điểm là những người tham gia mua bán không thường xuyên, hàng hóa không được tiêu chuẩn hóa và giá thấp. Nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận cao trên thị trường trực tiếp, nhưng cũng gặp nhiều rủi ro khi tham gia vào thị trường này. Thị trường môi giới (Brokered Market) Thị trường môi giới là một thị trường có cấp độ tổ chức cao.
Nhà đầu tư chủ động và thuận lợi hơn khi thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán ở thị trường này. Người môi giới tìm kiếm lợi nhuận thông qua cung cấp những dịch vụ đang cần cho người mua và người bán.3 Chức năng Chức năng huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Thị trường chứng khoán cung cấp phương tiện huy động số vốn nhàn rỗi trong dân cư cho các công ty sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất mới,.Nhờ vậy mà các công ty có thể huy động được một số lượng lớn vốn đầu tư dài hạn. Chức năng cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng Cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn, khả năng đưa lại lợi tức và mức độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn được loại chứng khoán phù hợp với khả năng, sở thích và mục đích của mình.
Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán Các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc thành các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Đây là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư và là yếu tố cho thấy tính linh hoạt của chứng khoán. 5 Chức năng đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Chức năng tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Các chỉ báo của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá cả các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại. Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối nền kinh tế.
Tổng quan về chứng khoán 2. Khái niệm chứng khoán Theo Khoản 1, Điều 4 Luật Chứng khoán (2019) quy định chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký; c) Chứng khoán phái sinh; d) Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định. Theo Nguyễn Văn Nam và Vương Trọng Nghĩa (2002) định nghĩa rằng “Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư (tư bản đầu tư); chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một hạn nào đó”. Đặc điểm của chứng khoán Tính thanh khoản (Tính lỏng) : Tính lỏng của tài sản là khả năng chuyển tài sản đó thành tiền mặt.
Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoản thời gian và phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảm sút giá trị của tài sản đó do chuyển đổi. 6 Tính rủi ro: Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống. Rủi ro có hệ thống chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung như: lạm phát, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, lãi suất,.Rủi ro không có hệ thống thường liên quan tới điều kiện của nhà phát hành. Tính sinh lợi: chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó nhà đầu tư mong muốn nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai.
Thu nhập này được đảm bảo bằng lợi tức được phân chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường. Phân loại chứng khoán Phân loại chứng khoán theo tính chất: bao gồm chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, các chứng khoán phái sinh. Chứng khoán vốn (cổ phiếu) là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu phần vốn góp và các quyền hợp pháp khác đối với tổ chức phát hành. Chứng khoán vốn được phát hành khi thành lập công ty cổ phần hoặc khi công ty cần tăng vốn điều lệ.
Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành hai dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường: Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thường được: Quyền tự do chuyển nhượng; Quyền biểu quyết đối với các quyết định của công ty tại Đại hội cổ đông; Được hưởng cổ tức theo kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu đang nắm giữ. Cổ phiếu ưu đãi: Các cổ đông năm giữ cổ phiếu ưu đãi có quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: Lợi tức ổn định; Không có quyền được bầu cử, ứng cử; Được nhận cổ tức đầu tiên. Khi công ty bị phá sản thì họ cũng là những người được công ty trả trước sau đó mới đến cổ đông thường. Chứng khoản nợ, điển hình là trái phiếu, tín phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong những khoảng thời gian cụ thể.
Chứng khoản phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc. Phân loại chứng khoán theo khả năng chuyển nhượng: Chứng khoán ghi danh và chứng khoản vô danh. 7 Chứng khoán ghi danh là chứng khoán được phép chuyển nhượng nhưng phải tuân theo những qui định pháp lý cụ thể. Nếu muốn chuyển nhượng người sở hữu phải chứng minh mình là người được phép và có quyền chuyển nhượng (xác nhận chữ ký, chứng minh thư, tên trong danh sách cổ đông).
Chứng khoán vô danh là chứng khoán được chuyển nhượng dễ dàng, không cần thủ tục xác nhận của công ty hoặc cơ quan công chứng. Người mua có trách nhiệm chi trả cho người bán theo giá cả đã được xác định. Phân loại chứng khoán theo thu nhập: Chứng khoán có thu nhập cố định, chứng khoán có thu nhập biến đổi, chứng khoán hỗn hợp. Chứng khoán có thu nhập cố định là loại chứng khoán có quyền yêu cầu thu nhập cố định không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của nhà phát hành.
Bao gồm các loại trái phiếu Nhà nước, trái phiếu địa phương, trái phiếu công ty,…Với loại chứng khoán này, tỷ lệ lợi tức quyết định chủ yếu tới khả năng sinh lời của chứng khoán. Chứng khoán có thu nhập biến đổi thường đại diện cho loại chứng khoán có thu nhập biến đổi. Thu nhập do việc sở hữu cổ phiếu mang lại gọi là cổ tức, nó biến động theo kết quả kinh doanh của công ty.