đặt vấn đề mô hình PSM có khác nhau không, có cần phải xây dựng một mô hình PSM phù hợp nhất quát không. Biện pháp nghiên cứu là thực hiện cuộc khảo sát được pháp triển bởi Perry (1996) rất hữu ích cho việc hỗ trợ so sánh giữa các dịch vụ công khác nhau, trên nền tảng chính trị, văn hóa của từng quốc gia khác nhau, cuộc khảo sát dựa trên nền tảng của 24 câu hỏi về 4 thành phần gồm: (1) sự hấp dẫn tham gia vào chính sách công, (2) cam kết vì lợi ích công, (3) lòng nhân từ và (4) sự hy sinh. Kim và Vandenabeele (2012) đã đề xuất rằng động cơ dịch vụ công cộng dựa trên về sự hy sinh bản thân và có thể rơi vào ba loại; công cụ, dựa trên giá trị và nhận dạng động cơ. Các động cơ công cụ có liên quan đến hành vi, động lực dựa trên giá trị đến giá trị và đạo đức, và các động cơ xác định thái độ.
Kích thước của cấu trúc PSM được tinh chỉnh như thu hút sự tham gia của công chúng, cam kết với các giá trị công cộng, lòng trắc ẩn và sự hy sinh bản thân. Các mối quan hệ giữa PSM và kích thước của nó cho thấy hợp lý hơn khi định nghĩa PSM là một cấu trúc hình thành. Nghiên cứu này phát triển một biện pháp PSM phù hợp hơn, nhất quán hơn, đáng tin cậy để đo lường động lực làm việc của nhân viên trong lĩnh vực công đó là các đơn vị hành 10 chánh sự nghiệp. Các yếu tố này được Kim và Vandenabeele (2012) thu thập dữ liệu và kiểm định tại 12 quốc gia.
Nghiên cứu động lực làm việc khu vực công tại Trung Quốc, Chunkui Zhu (2014) khảo sát 1.207 nhân viên công chức của các sở cấp tỉnh ở Trung Quốc. Một loạt các phương pháp nghiên cứu được sử dụng, chẳng hạn như phân tích thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và phân tích hồi quy. Nghiên cứu cho rằng những người làm việc trong lĩnh vực công có động cơ mạnh mẽ, sẵng sàng phục vụ lợi ích công, công chức, viên chức tập trung vào giá trị nội tại và giá trị xã hội của họ cũng như tinh thần và sự cống hiến, vị tha đối với lợi ích công cộng. Nghiên cứu đưa ra 4 yếu tố cấu thành động lực làm việc trong lĩnh vực công (dẫn theo Perry và Wise, 1996) gồm: sự hấp dẫn của chính sách; cam kết vì lợi ích công, lòng nhân từ và sự hi sinh.
Kết quả kiểm định cho kết quả cả 4 yếu tố điều tác động đến động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức. Động lực làm việc của chính quyền trung ương tại Tây Ban Nha được Xavier Ballart và cộng sự (2017) nghiên cứu dựa trên mô hình PSM, dữ liệu nghiên cứu được lấy phiếu khảo sát 200 công chức đang làm việc tại 16 Bộ và các cơ quan hành chánh thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn dựa trên thang đo PSM. Đề tài thực hiện phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy đa biến và thực hiện một số kiểm định thống kê để kiểm định sự phù hợp của dữ liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho rằng 4 yếu tố gồm sự tham gia vào chính sách, cam kết vì lợi ích chung, lòng trắc ần và sự hy sinh của công chức đều tác động đến động lực làm việc của công chức.
Trong đó, sự tham gia vào hệ thống chính sách phụ thuộc vào khả năng nhận thức của người tham gia và phụ thuộc vào từng giai đoạn khác nhau của chính sách.6 Lý thuyết về động lực làm việc 2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow Nói đến sự thỏa mãn nói chung người ta thường nhắc đến lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943). Theo ông nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng và tự thể hiện. Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bấc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Từ lý thuyết này, ta có thể thấy nhà quản lý cần phải biết được nhân viên của mình đang ở cấp bậc nhu cầu nào để từ đó động viên nhân viên của mình bằng cách đáp ứng các nhu cầu cá nhân đó của họ.
Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thoả mãn. Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao như sau: 11 Hình 2.1: Thứ bậc nhu cầu của Maslow Nguồn: Maslow, A.H, 1943 Trong năm loại nhu cầu trên nhu cầu về sinh lý là nhu cầu thấp nhất của con người. Nhu cầu sinh lý bao gồm những nhu cầu cơ bản nhất, thiết yếu nhất giúp cho con người tồn tại. Đó là các nhu cầu: ăn, mặc, ở, đi lại và một số nhu cầu cơ bản khác.
Tiếp đến là nhu cầu an toàn, nhu cầu an toàn là nhu cầu được ổn định, chắc chắn. Con người muốn được bảo vệ chống lại những điều bất trắc hoặc nhu cầu tự mình bảo vệ. Nhu cầu xã hội là một trong những nhu cầu bậc cao của con người. Nhu cầu xã hội bao gồm nhu cầu giao tiếp, nói chuyện với người khác để được thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc và sự hợp tác, nhu cầu được chia sẻ sự yêu thương, … Cao hơn nữa là nhu cầu được tôn trọng.
Con người ngoài nhu cầu muốn giao tiếp nói chuyện với người khác họ còn muốn mọi người kính trọng, vị nể mình, thừa nhận vị trí của mình trong xã hội. Nhu cầu bậc cao nhất đó là nhu cầu tự hoàn thiện, đó là nhu cầu được phát triển, tự khẳng định mình. Họ mong muốn được biến năng lực của mình thành hiện thực, họ luôn luôn hy vọng được hoàn thiện hơn. Theo Maslow: về nguyên tắc, khi mỗi nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thoả mãn thì nhu cầu tiếp theo sẽ trở nên quan trọng nhất.
Sự thoả mãn nhu cầu của các cá nhân bắt đầu từ nhu cầu thấp nhất, các nhu cầu dưới được thoả mãn thì nhu cầu trên mới xuất hiện. Sự thoả mãn nhu cầu đi theo thứ tự từ thấp đến cao. Mặc dù thực tế thì chẳng nhu cầu nào được thoả mãn hoàn toàn cả nhưng các nhu cầu khi đã được thoả mãn cơ bản thì những tác động vào nhu cầu đó sẽ không còn tạo được động lực cho họ 12 nữa. Vì thế, theo Maslow, nhà quản lý muốn tạo động lực cho nhân viên của họ thì trước hết nhà quản lý phải hiểu được nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc nhu cầu, từ đó có định hướng vào sự thoả mãn nhu cầu đó của họ để chính sách tạo động lực đạt được kết quả cao nhất.
Một nhân viên khi vào làm việc tại công ty chắc chắn họ đều có một hoặc nhiều nhu cầu khác nhau. Các nhu cầu này thường xuyên có sự thay đổi. Mỗi người lao động lại có nhu cầu khác nhau và đòi hỏi sự thoả mãn khác nhau. Do đó, nếu nhà quản lý không nắm bắt được những đặc điểm cần thiết này, không thoả mãn nhu cầu cho nhân viên thì chắc chắn một ngày không xa nhân viên của anh ta sẽ “nói lời từ biệt” với công ty của anh ta.
Maslow đã lập luận rằng: hành vi của mỗi cá nhân tại một thời điểm nào đó thường được quyết định bởi một nhu cầu mạnh nhất của họ. Bởi vậy, điều quan trọng đối với các nhà quản lý là phải biết được những nhu cầu thông thường quan trọng nhất. Nhu cầu của con người có thể được phân thành những cấp độ nhu cầu cơ bản sau: Nhu cầu sinh học: là các nhu cầu cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý của con người như các nhu cầu ăn, uống, không khí để thở, các nhu cầu làm con người thoải mái, … Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Bậc này là bậc thấp nhất, bậc cơ bản nhất.
Nhu cầu an toàn: khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức là các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được xuất hiện. Nhu cầu an toàn thể hiện trong cả vật chất lẫn tinh thần. Nhu cầu xã hội: đó là nhu cầu mong muốn là thành viên của một tập thể, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương. Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng, cũng như nhu cầu tự tôn trọng mình.
Nhu cầu tự khẳng định: đây là nhu cầu cao nhất và khó thỏa mãn nhất trong thang đo bậc nhu cầu Maslow, bao gồm nhu cầu được phát triển cá nhân và tự hoàn thiện, biến các năng lực của mình thành hiện thực và sử dụng hết khả năng để tự khẳng định mình. 13 5 4 3 NHU CẦUTỰ KHẲNG ĐỊNH NHU 2 CẦUĐƯỢC TÔN TRỌNG Tự phát triển. 1 NHU CẦU XÃ Tự hoàn thiện. HỘI Thành đạt.
Tầm quan NHU CẦU Tự tin. trọng lên nhiều AN TOÀN Nhu cầu được Tự trọng. NHU CẦU yêu mến. SINH HỌC Được công Sự đảm bảo.
Mối quan hệ nhận. Sự ổn định xã hội tốt. Nhu cầu ăn tương lai. uống, áo quần, nơi ở… Hình 2.2: Sơ đồ phân cấp hệ thống nhu cầu của con người Nguồn: Trần Kim Dung, 2011 Maslow đã khẳng định: mỗi cá nhân người lao động có hệ thống nhu cầu khác nhau và người quản lý phải quan tâm đến các nhu cầu của người lao động.
Để tạo động lực làm việc cho người lao động thì cần hiểu họ đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc nhu cầu trên và hướng vào sự thỏa mãn các nhu cầu thứ bậc đó, từ đó có biện pháp để thỏa mãn nhu cầu đó một cách hợp lý nhất.2 Thuyết hai yếu tố của Frederick Heberg F. Herzberg và cộng sự (1959), đưa ra hệ thống hai yếu tố về sự thoả mãn công việc và tạo động lực trong lao động. Ông chia các yếu tố tác động đến người lao động thành hai nhóm, nhóm yếu tố có tác dụng tạo động lực cho người lao động và nhóm các yếu tố duy trì (thuộc về môi trường tổ chức).