chương 1 tác giả đã nêu bật được lý do cấp thiết khi chọn đề tài và kết Luận văn thạc sĩ QTKD cấu đề tài dự kiến. Đây là cơ sở để tác giả tiếp tục dẫn đến Chương 2: Cơ sở lý luận về động lực làm việc và các nhân tố ảnh hưởng tới động lực làm việc của nhân viên 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 của luận văn trình bày các loại lý thuyết nền, các khái niệm và các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến động lực làm việc của người lao động trong tổ chức. Các lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu động lực làm việc của nhân viên Bưu điện thành phố Nha Trang. Giới thiệu tổng quan về Bưu điện thành phố Nha Trang 2.1 Giới thiệu khái quát về Bưu điện thành phố NhaTrang Luận văn thạc sĩ QTKD 2.
Quá trình thành lập Bưu điện thành phố Nha Trang trực thuộc Bưu điện tỉnh Khánh Hòa, đã được cấp giấy phép kinh doanh vào ngày 14/02/2017 và bắt đầu hoạt động từ ngày 01/03/2017. Tọa lạc tại số 1 Pasteur, Phường Xương Huân, Tp Nha Trang, Khánh Hòa. Là địa chỉ tin cậy khi người dân Tp Nha Trang nói riêng và Tình Khánh Hòa nói chung có nhu cầu giao dịch điện tín, thư từ, hàng hóa đi mọi miền tổ quốc. Chức năng và nhiệm vụ Bưu điện TP Nha Trang là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên địa bàn thành phố, có nhiệm vụ thiết lập, quản lý, khai thác và phát triển mạng bưu chính công cộng trên địa bàn thành phố; Cung cấp các dịch vụ bưu chính công ích; Kinh doanh các dịch vụ bưu chính dành riêng theo quy định 8 của Bưu điện tỉnh Khánh Hòa và cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Kinh doanh các dịch vụ bưu chính chuyển phát, phát hành báo chí, tài chính bưu chính và phân phối truyền thông; Tổ chức kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật và được Bưu điện tỉnh Khánh Hòa cũng như Tổng công ty Bưu điện Việt Nam cho phép; đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước, phục vụ Quốc phòng An ninh, ngoại giao, các nhu cầu thông tin liên lạc khẩn cấp.
Cơ cấu tổ chức bộ máy Giám đốc Phó Giám đốc Phó Giám đốc Luận văn thạc sĩ QTKD Tổ kinh doanh – kỹ Tổ Kế toán – tổng 17 Bưu cục và 5 thuật nghiệp vụ hợp Bưu điện văn hóa xã Hình 4. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy 2. Lý thuyết nền của đề tài nghiên cứu 2.1 Lý thuyết tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Ở Mỹ có 1 nhà tâm lý học nổi tiếng, đó là Abraham. Maslow, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ.
Nhu cầu thõa mãn của con người được phân thành các bậc từ thấp lên cao, thể hiện sự thõa mãn của con người và là động lực để họ đạt được đến nhu cầu thõa mãn. Ở những tháp 9 nhu cầu cao hơn sẽ được thõa mãn nếu các tháp nhu cầu thấp đáp ứng được. Dù là một cá nhân hay tổ chức thì chủ yếu đều hành động theo nhu cầu. Theo bậc thang nhu cầu của A.
Maslow, các nhu cầu gồm có hai cấp: cấp cao và cấp thấp. Cấp thấp gồm các nhu cầu thể chất và an toàn. Cấp cao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng và thể hiện bản thân. Nhà nghiên cứu cho rằng khi con người đạt được các bậc nhu cầu thấp thì họ sẽ nghĩ đến các nhu cầu cao.
Thuyết này có ý nghĩa rất quan trọng khi được các nhà quản lý vận dụng vào tổ chức, muốn động viên cấp dưới phải biết được nhu cầu thiết thực mà họ cần, từ đó mới có khen thưởng động viên đúng với mong muốn của họ. Từ đó xây dựng được đội ngũ nhân viên lớn mạnh, cống hiến hết mình cho tổ chức. Tháp nhu cầu như sau: Luận văn thạc sĩ QTKD Hình 2.1 Các cấp bậc của nhu cầu Maslow 10 2.2 Lý thuyết thúc đẩy của McClelland Những nhu cầu cơ bản được thể hiện trong thuyết này như sau: Nhu cầu đẩu tiên là thành tích, người có nhu cầu về thành tích luôn nỗ lực phấn đầu đạt được mục tiêu ban đầu mà họ đã đề ra, và họ cần hiệu quả công việc được phản ảnh một cách rõ ràng nhất. Nhu cầu thứ hai là nhu cầu liên kết hay nhu cầu được tham gia các hoạt động của một tổ chức, của xã hội, mong muốn có mối quan hệ gần gũi và thân thiện với mọi người xung quanh.
Người có nhu cầu này cao sẽ thích hợp với những công việc liên quan phục vụ cộng đồng, các hoạt động xã hội. Nhu cầu thứ ba là nhu cầu quyền lực. Nhu cầu này thể hiện ở chỗ đó là họ muốn kiểm soát nguồn tài nguyên và nhân lực, những điều này mang đến quyền lợi cho họ. Luận văn thạc sĩ QTKD Trong cuộc sống thực tế, có thể thấy rằng trong sự thành công của doanh nghiệp có sự góp phần lớn của các cá nhân có nhu cầu về thành tích cao.
Nhưng nhà quản lý tốt chưa chắc đã là người có nhu cầu thành tích cao, đặc biệt ở những tổ chức lớn. Trong khi đó, nhu cầu về quyền lực và liên kết có liên quan chặt chẽ đến thành công trong quản lý. Người quản lý làm việc tốt nhất khi có nhu cầu về quyền lực cao và nhu cầu liên kết thấp. Mặc dù vậy, nghiên cứu của McClelland ít có ý nghĩa thực tiễn hơn các nghiên cứu khác bởi một vấn đề tồn tại là việc đo lường những nhu cầu này không hề dễ dàng.
Hơn nữa, những nhu cầu này không thích hợp đối với một số cá nhân, đặc biệt là những người luôn trì trệ, lười biếng, không có sự cố gắng và không có tham vọng trong công việc.3 Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg 11 Năm 1959, Sau khi thực hiện khảo sát tại các nghành công nghiệp khác nhau với hơn 201 kĩ sư và kế toán thì F. Herzberg và các đồng nghiệp của mình đã đúc kết được nhiều điều rất bổ ích. Ông nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến người lao động, khi nào sẽ có tác dụng động viên họ và ngược lại. Ông cho rằng họ sẽ lo lắng về môi trường làm việc của mình khi họ không thõa mãn được với công việc, họ sẽ quan tâm đến công việc được giao khi họ có mức độ hài lòng với nó.
Thuyết trên hình thành 2 nhóm nhân tố: duy trì và thúc đẩy. - Nhân tố thúc đẩy là tác nhân của sự thoả mãn và sự hài lòng trong công việc, như: + Thành tích hay là đạt được kết quả bản thân mình mong muốn; + Sự công nhận của tổ chức, lãnh đạo và đồng nghiệp nơi mình làm việc; Luận văn thạc sĩ QTKD + Trách nhiệm của bản thân được gia tăng; + Sự nỗ lực phấn đấu phát triển ở vị trí của mình; + môi trường làm việc có tính chất cạnh tranh cao; - Nhân tố duy trì thể hiện ở sự bất mãn của đội ngũ công nhân viên tại đơn vị, nguyên nhân như sau: - Chính sách ưu đãi của tổ chức; - Sự kiểm tra trong môi trường làm việc không đạt; - Cơ sở vật chất làm việc không đáp ứng mong chờ của nhân viên; - Các khoản thu nhập định kì và đột xuất không tương; - Đời sống cá nhân; - Các mối quan hệ giao tiếp trong tổ chức; 12 Người lao động sẽ làm việc tích cực hơnnếu yếu tố động viên được chú trọng, còn nều ngược lại thì điều nay có thể gây ra sự không thõa mãn, chứ chưa phải là bất mãn. Mặc dù vậy sự bất mãn sẽ thể hiện nếu nhân tố duy trì không đảm bảo tốt. Nhân viên không Nhân viên Nhân viên bất Nhân tố duy trì còn bất mãn Nhân tố thúc đẩy không còn bất mãn và không có nhưng không có mãn và có động động lực động lực lực Hình 2.2: Thuyết hai yếu tố của Herzberg (Nguồn: Herzberg,1959) 2.4 Lý thuyết thúc đẩy theo kỳ vọng Luận văn thạc sĩ QTKD Lý thuyết kỳ vọng được đề xuất bởi Victor Vroom (giáo sư Trường Quản trị Kinh doanh Yale (và học vị Tiến sĩ khoa học tại Trường đại học Michigan) đưa ra, vào năm 1964, sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi một số học giả khác, bao gồm cả Porter và Lawler (1968), thuyết này chủ yếu tập trung vào hiệu quả.
Maslow và Herzberg nghiên cứu dựa trên mối quan hệ giữa nhu cầu nội tại và nỗ lực tạo ra kết quả nhằm thoả mãn nhu cầu nội tại đó, còn Vroom lại tách biệt giữa nỗ lực (phát sinh từ động lực), hành động và hiệu quả. Về căn bản, học thuyết kỳ vọng cho rằng cường độ của xu hướng hành động theo một cách nào đó phụ thuộc vào độ kỳ vọng rằng hành động đó sẽ đem đến một kết quả nhất định và tính hấp dẫn của kết quả đó đối với cá nhân. Thuyết này được xây dựng theo công thức: 13 Hấp dẫn x Mong đợi x Niềm tin = Sự động viên Tính hấp dẫn thể hiện ở phần thưởng cụ thể, tính này tạo ra kì vọng để đạt được một mục tiêu nào đó. Mong đợi thể hiện ở chỗ thực hiện công việc, nếu công nhân viên có xu hướng nỗ lực làm việc thì nhiệm vụ sẽ hoàn thành.
Phương tiện hay nói cách khác là niềm tin, họ sẽ nghĩ rằng họ sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng với năng lực của họ. Sự động viên chính là đúc kết từ những điều trên. Vì thế nhà lãnh đạo có thể nắm bắt được diều này để ứng xử và đề ra những quy chế phù hợp. Cùng nhân viên của mình hoàn thành những mục tiêu đã xây dựng.
Hình dưới đây là giản đồ hóa lý thuyết kỳ vọng nhưng vẫn phát biểu được những luận điểm chủ yếu của nó. Cường độ của động lực hoạt động (nỗ Luận văn thạc sĩ QTKD lực) của một người phụ thuộc vào việc người đó tin tưởng mạnh mẽ như thế nào vào việc mình có thể đạt được những gì mà mình cố gắng.3 Mô hình kỳ vọng của Vroom Lý thuyết của Vroom mang tính chính xác cao và tính logic nhưng nó lại khó áp dụng vào thực tiễn. Lý thuyết này không cụ thể và phức tạp hơn so với cách tiệp cận của Maslow và Herzberg. Các khái niệm nghiên cứu 2.1 Khái niệm nhu cầu Khái niệm nhu cầu thường được hiểu là: (1) Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.