Mở Đầu 3 Giới thiệu tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. - Chƣơng 2: Tổng quan nghiên cứu và các nghiên cứu liên quan Giới thiệu tổng quan về các tài liệu nghiên cứu trƣớc đây bao gồm cả những tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nƣớc.Bên cạnh đó giới thiệu tổng quan sơ nét về địa bàn nghiên cứu là thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. - Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng này trình bày về các phƣơng pháp định tính và định lƣợng đã sử dụng trong bài, quy trình nghiên cứu, mẫu nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu, kiểm định mô hình và đo lƣờng các khái niệm nghiên cứu, phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu.
Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị Trình bày các kết quả chính mà nghiên cứu đã đạt đƣợc, từ đó đề xuất một số hàm ý quản trị tập trung vào các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của du khách đối với chất lƣợng dịch vụ du lịch tại điểm đến thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Chƣơng này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của luận văn và tổng hợp bố cục của đề tài cho biết cụ thể nội dung của từng chƣơng sẽ về vấn đề gì. 4 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Cơ sở lý thuyết về du lịch 2.1 Các khái niệm về du lịch * Khái niệm du lịch: Định nghĩa của Tổ chức thế giới – World Tourism Organization thì “Du lịch là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và việc tổ chức các hoạt động xung quanh hoạt động này. Người đi du lịch là người ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích giải trí, tiêu khiển”(World Tourism Organization, 1992) Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017), định nghĩa: "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Theo Luật Giá (Quốc hội, 2012): “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”; Theo Kotler và Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, cũng cố, mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Philip Kotler và Kellers (2006) định nghĩa: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Những khái niệm dịch vụ nêu trên cho thấy có nhiều góc nhìn khác nhau nhƣng đều nhìn nhận dịch vụ là những hoạt động có chủ đích của nhà cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con ngƣời.
Trong luận văn này, tác giả căn cứ vào khái niệm du lịch của Luật Du lịch Việt Nam để phục vụ nghiên cứu và phân tích. 5 * Khách du lịch (du khách): theo điều 3, chƣơng 1, Luật Du lịch Việt Nam (2017), Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. * Điểm du lịch: theo khoản 7, điều 3, chƣơng 1, Luật Du lịch Việt Nam, Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch đƣợc đầu tƣ, khai thác phục vụ khách du lịch.2 Đặc điểm du lịch Bản chất của dịch vụ là phi vật chất, do đó dịch vụ có 4 đặc điểm nhƣ sau: (i) Tính vô hình (Intangibility): Sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi, khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi…trƣớc khi mua. (ii) Tính không thể chia tách (Inseparability): Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất và phân phối chúng, quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch vụ, do vậy, không thể dấu đƣợc các sai lỗi của dịch vụ; (iii) Tính có khả năng biến đổi (Variability): Dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát trƣớc hết do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra đƣợc dịch vụ nhƣ nhau trong khoảng thời gian hoàn toàn khác nhau, nghĩa là gần nhƣ không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau; (iv) Tính dễ phân hủy (Perishability): Dịch vụ không thể tồn kho, không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác, không thể kiểm tra chất lƣợng trƣớc khi cung ứng, ngƣời cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc.
Những đặc điểm trên của dịch vụ làm cho việc đánh giá chất lƣợng dịch vụ trong quá trình tiêu dùng dịch vụ rất khó khăn. Trong quá trình tiêu dùng dịch vụ, chất lƣợng dịch vụ thể hiện trong quá trình tƣơng tác giữa khách hàng và nhân viên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.3 Phân loại du lịch + Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ du lịch đƣợc chia làm 2 loại: Du lịch quốc tế (International Tourism): là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của du khách nằm trên lãnh thổ các quốc gia khác nhau, du khách phải đi qua biên giới và tiêu thụ ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Du lịch quốc tế đƣợc chia thành 2 6 loại: Du lịch quốc tế chủ động (Inbound Tourism) và Du lịch quốc tế bị động (Outbound Tourism) Du lịch nội địa (Domestic Tourism): đƣợc hiểu là các hoạt động tổ chức, phục vụ ngƣời trong nƣớc đi du lịch, nghỉ ngơi và tham quan các đối tƣợng du lịch trong lãnh thổ quốc gia, về cơ bản không có sự giao dịch, thanh toán bằng ngoại tệ + Căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách: - Du lịch chữa bệnh - Du lịch nghỉ ngơi, giải trí - Du lịch thể thao - Du lịch công vụ - Du lịch tôn giáo - Du lịch khám phá - Du lịch thăm hỏi (thăm viếng) - Du lịch quá cản + Căn cứ vào phƣơng tiện giao thông: - Du lịch bằng xe đạp, mô tô - Du lịch tàu hỏa - Du lịch tàu biển - Du lịch ô tô - Du lịch hàng không + Căn cứ theo phƣơng tiện lƣu trú: - Du lịch ở khách sạn là loại hình phổ biến nhất phù hợp với khách du lịch trung niên và có khả năng chi tiêu cao. - Du lịch ở Motel là loại dành cho du khách du lịch ô tô.
- Du lịch nhà trọ phù hợp với số đông đối tƣợng du khách có khả năng chi tiêu trung bình và thấp. - Du lịch camping phát triển rất mạnh phù hợp với du khách đi du lịch cuối tuần bằng phƣơng tiện xe đạp, mô tô và ô tô. Đối tƣợng du khách là lứa tuổi thanh thiếu niên. + Căn cứ vào thời gian đi du lịch: - Du lịch dài ngày thƣờng là 2 tuần đến 5 tuần.
- Du lịch ngắn ngày có thời gian dƣới 2 tuần (du lịch cuối tuần). 7 + Căn cứ vào đặc điểm đại lý của điểm du lịch: - Du lịch miền biển: Mục đích chủ yếu của du khách là tắm biển, tắm nắng và tham gia các hoạt động thể thao dƣới nƣớc. - Du lịch núi: Thỏa mãn nhu cầu tham quan cảnh đẹp hùng vĩ của núi rừng, nghỉ dƣỡng, leo núi. - Du lịch đô thị: Các thủ đô, thành phố có sức hấp dẫn đối với khách du lịch bởi các công trình kiến trúc mỹ thuật, nền văn hóa đặc sắc, độc đáo tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
- Du lịch đồng quê: làng quê là nơi có không khí trông lành, cảnh vật yên bình và không gian thoáng đãng là điều kiên tuyệt vời giúp du khách nghỉ ngơi, thƣ giãn phục hồi sức khỏe. + Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch: - Du lịch theo đoàn: Các thành viên đi du lịch đƣợc tổ chức theo đoàn và thƣờng có chuẩn bị chƣơng trình du lịch sẳn. Đƣợc chia làm 2 loại: du lịch theo đoàn không thông qua tổ chức du lịch và du lịch theo đoàn thông qua tổ chức du lịch. - Du lịch cá nhân: cá nhân du khách tự định ra tuyến hành trình, kế hoạch tham quan, lƣu trú, ăn uống theo sở thích thị hiếu của riêng mình.
+ Căn cứ vào thành phần du khách: - Du khách thƣợng lƣu là những du khách có khả năng thanh toán cao. - Du khách bình dân (du khách đại chúng) thỏa mãn số đông nhu cầu của du khách có khả năng thanh toán trung bình và thấp. + Căn cứ vào phƣơng thức ký kết hợp đồng đi du lịch: - Du lịch trọn gói: Giá của chƣơng trình bao gồm vận chuyển, lƣu trú, ăn uống và dịch vụ tham quan, mức giá trọn gói thƣờng rẻ hơn so với mua riêng lẻ từng phần dịch vụ trong tour trọn gói - Mua từng phần dịch vụ của tour du lịch: Du khách chỉ mua từng dịch vụ nhƣ dịch vụ vận chuyển hoặc dịch vụ lƣu trú.2 Lý thuyết về dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ 2.1 Lý thuyết về dịch vụ 8 Dịch vụ đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc tạo ra giá trị cho nền kinh tế của quốc gia. Nhận thức tầm quan trọng của dịch vụ, các nhà nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu về lĩnh vực này từ đầu những năm 1980.
Có nhiều định nghĩa về dịch vụ đƣợc đƣa ra từ các học giả trên toàn thế giới, tiêu biểu là các định nghĩa nhƣ sau: Theo Zeithaml và Bitner (2000) thì Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Còn theo Svensson (2002) thì dịch vụ là sản phẩm vô hình, chúng không đồng nhất với nhau và cũng không thể tách ly chúng đƣợc, nghĩa là trong quá trình tiêu dùng dịch vụ thì chất lƣợng dịch vụ thể hiện trong sự tƣơng tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ.