chương 1 tác giả đã nêu tính cấp bách cần thiêt, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài, tác giả đã xác định phạm vi và đối tượng nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu toàn luận văn. Ngoài ra tác giả còn nêu đóng góp của khóa luận và thiêt kê cấu trúc của nghiên cứu làm cơ sở để tiên hành nghiên cứu các nội dung cụ thể ở chương sau. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về NHTM 2. Khái niệm về NHTM Ngân hàng là loại hình tổ chức đã ra đời từ lâu và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tê nói chung và đối với cộng đồng địa phương nói riêng.
Tuy vậy, vẫn có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng. Để định nghĩa ngân hàng, người ta có thể căn cứ vào tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Vấn đề không chỉ là chức năng của ngân hàng thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh chính của ngân hàng cũng thay đổi. - Theo Luật các TCTD năm 2010: Ngân hàng là TCTD được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gởi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Chức năng của NHTM Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM.Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, nó mang đên lợi nhuận lớn nhất cho NHTM. Chức năng trung gian thanh toán - Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
- Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín 6 dụng,… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tê không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tê sẽ tiêt kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tê.
Chức năng tạo tiền - Là chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Mục tiêu tìm kiêm lợi nhuận chẳng hạn như yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tê. - Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tê, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM. Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tê lớn. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Thương mại Tạo lập nguồn vốn - Vốn của ngân hàng Vốn điều lệ: Là vốn ban đầu được hình thành khi thành lập doanh nghiệp; nhà nước cấp nêu là NHTM Nhà nước (doanh nghiệp Nhà nước) hoặc là cổ đông đóng góp là NHTM cổ phần. Vốn điều lệ tùy thuộc vào quy mô kinh doanh và do luật định.
Vốn bổ sung: Là bộ phận vốn tự có tăng thêm trong quá trình hoạt động, bằng cả trích từ lợi nhuận kinh doanh, các quỹ dự trữ, lãi không chia cho các cổ phiêu hay tài sản, mức đóng góp của các cổ đông. Vốn của bản thân Ngân hàng: Chủ yêu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, công cụ lao động, mở rộng mạng lưới hoạt động, phát triển công nghệ và 7 kỹ thuật Ngân hàng, hùn vốn liên doanh liên kêt.Vốn tự có vừa làm đệm để chống đỡ rủi ro, vừa làm căn cứ để duy trì tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động Ngân hàng. - Huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội Đây là nguồn vốn chiêm tỷ trọng lớn nhất, ngày càng cao trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng. Các NHTM tiên hành huy động vốn bằng nhiều hình thức như mở tài khoản tiển gửi thanh toán (tài khoản vãng lai) tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tiêt kiệm của dân cư, phát hành trái phiêu, kỳ phiêu của Ngân hàng theo kỳ hạn huy động vốn có thể chia vốn huy động làm 2 loại: Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
+ Tiền gửi không kỳ hạn Đối với các NHTM Việt Nam huy động vốn tiền gửi không kỳ hạn có 2 hình thức chính: Tiền gửi tiêt kiệm không kỳ hạn của dân cư và tiền gửi trên tài khoản tiền thanh toán của các tổ chức kinh tê - xã hội và cá nhân. • Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư: Là hình thức tiền gửi tiền và rút tiền ra khỏi ngân hàng một cách thường xuyên, bất kỳ thời điểm nào. Mục đích của khách hàng không phải gửi tiền để hưởng lãi, mà chủ yêu là để đảm bảo thanh toán và an toàn tài sản. • Tiền gửi trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tê - xã hội và cá nhân: Mục đích chủ yêu là phục vụ cho nhu cầu thanh toán.
Khách hàng mở tài khoản thanh toán tại các NHTM thông qua tài khoản để ghi “Có” các khoản thu nhập hoặc sử dụng để ghi “Nợ” trả tiền hay rút tiền mặt theo yêu cầu bằng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt như: Séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ thanh toán. Hai hình thức tiền gửi trên, khách hàng được ngân hàng trả lãi trên số dư “Có” trên tiêt kiệm hay trên tài khoản. Đặc điểm của tiền gửi này là lãi suất thấp, không cố định. + Tiền gửi có kỳ hạn Bao gồm tiền gửi của cá nhân, các tổ chức kinh tê, xã hội.
Tiền gửi có kỳ hạn thông thường chỉ được rút ra theo kỳ hạn. Đối với tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng có thể gửi vào và rút ra theo yêu cầu. Song loại tài khoản này không được phát hành séc, cũng như sử dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt khác. Khi khách hàng muốn rút trước hạn trên tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, ngân hàng sẽ tự chuyển từ tài khoản có kỳ hạn sang tài khoản tiền gửi thanh toán và từ tài khoản trên khách hàng mới rút tiền mặt hay chuyển khoản thanh toán khác.
- Phát hành giấy tờ có giá 8 Các NHTM phát hành kỳ phiêu và trái phiêu, đặc điểm là có kỳ hạn và lãi suất khi khoản lãi được hưởng khi đáo hạn thanh toán được ghi ngay trên bề mặt của kỳ phiêu hay trái phiêu. Hình thức huy động vốn này được thực hiện với mục đích sử dụng vốn rõ ràng, số lượng và thời gian phát hành nhất định. Do hoạt động cạnh tranh và đảm bảo lợi ích cho khách hàng có tiền gửi, khách hàng rút vốn trước hạn đều được các NHTM Việt Nam trả lãi không kỳ hạn. - Vốn đi vay Chủ yêu vay vốn của các NHTM là vay chiêt khấu với Ngân hàng Trung ương dòng tiền thanh toán vượt mức dự trữ thanh toán, như trong thanh toán bù trừ và thanh toán các khoản tiền gửi rút ra khỏi Ngân hàng.
Vay vốn các Ngân hàng nước ngoài và các NHTM cho vay lẫn nhau khi nhu cầu tài trợ vốn cho khách hàng đòi hỏi, trong khi chưa tạo lập được nguồn vốn bằng các hình thức khác. Cũng qua hình thức này ngân hàng có thêm khả năng thanh khoản mà không nhất thiêt phải bán các tài sản khác, có thể làm thiệt hại cho ngân hàng vì thê phải gia tăng chi phí. Đặc điểm của vốn là lãi suất cao nên các NHTM chỉ tham gia vay vốn khi thực sự cần thiêt. - Vốn nhận ủy thác đầu tư Đây là nguồn vốn ủy thác đầu tư của Nhà nước, của các tổ chức tài chính trong nước và quốc tê theo các chương trình và dự án có mục tiêu riêng.
Sử dụng vốn Qua hoạt động huy động vốn hình thành nên nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng sử dụng nguồn vốn này tiên hành hoạt động tín dụng tạo ra lợi nhuận. NHTM thu lợi nhuận chủ yêu bằng hoạt động cho vay, đầu tư, chiêt khấu chứng từ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ trung gian khác. - Hoạt động cho vay Đó là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền vay theo nguyên tắc có hoàn trả.
Căn cứ vào thời gian có thể phân thành 2 hình thức cho vay: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn. Theo quyêt định số 284/2000/QĐ – NHNN1 ngày 25/8/2000 của Thống đốc ngân hàng nhà nước NHNN Việt Nam, điều 10 về thời gian cho vay có quy định “cho vay ngắn hạn tối đa đên 12 tháng, cho vay trụng hạn từ trên 12 tháng đên 60 tháng, cho vay dài hạn từ trên 60 tháng”.