Mở đầu Chương II: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu 10 Chương III: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương IV: Kết quả nghiên cứu Chương V: Kết luận và kiến nghị 11 CHUONG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TONG QUAN NGHIÊN CUU. Lý thuyết về thẻ tín dụng 2. Tình hình sử dụng thẻ tín dụng hiện nay ở Hà Nội. Là một trong hai trọng điểm kinh tế chính của Việt Nam, cũng là nơi tập trung phần lớn các nhà đầu tư.
Đời sống của người dân vô cùng cao và đang ngày một tăng lên trong đó có nhu cau về các dịch vụ Ngân hàng. Đặc biệt là nhu cầu về sử dụng thẻ tín dụng. Đề đáp ứng nhu cầu của người dân, các Ngân hàng cũng đã đa dạng hóa về các sản pham thẻ tín dung như: JCB, Visa, MasterCard, Hi Collection,.Tai tat cả các đơn vị hành chính đều được triển khai lắp đặt máy POS, ATM dé phục vụ khách hàng. Ngoài ra, dé phát triển dịch vụ thẻ tin dụng, các Ngân hàng cũng kết nối với nhiều doanh nghiệp để mang đến nhiều ưu đãi thu hút khách hàng.
Khái niệm thẻ tín dụng Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, khái niệm về thẻ trong quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết Dinh số 371/1999/QD ngày 19/10/1999. Theo đó Ngân hàng Nhà nước quy định:““Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hang sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Thẻ ngân hang được hiểu như một phương tiện thanh toán được sử dụng dé thực hiện dich vụ thanh toán qua ngân hang bên cạnh các phương tiện thanh toán khác như tiền mặt, séc, ủy nhiệm chi (lệnh chi), ủy nhiệm thu. Với những tính năng ưu việt như gọn nhẹ, an toàn, thuận lợi, thẻ ngân hàng đã và đang được sử dụng khá phô biến ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng”.
“Thẻ tín dụng (credit card) là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với TCPHT. Thông thường, thẻ tín dụng được ngân hàng cấp cho chủ thẻ với một hạn mức nhất định dựa trên việc đánh giá và thâm định lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng, mức lương hàng tháng của chủ thẻ hoặc số tiền ký quỹ hay tài sản mà chủ thẻ đảm bảo tại ngân hàng”. Thẻ tín dụng có đặc điểm là chỉ tiêu trước, trả tiền sau, vì vậy mà chủ thẻ có thể thực hiện các giao dịch hàng hóa, dich vụ tại các DVCNT hay trên các website thương mại điện tử thông qua hình thức thanh toán bằng thẻ tín dụng. Sau đó một ngày định kỳ của mỗi tháng theo quy định của từng ngân hàng, ngân hàng sẽ gửi một bảng sao kê cụ 12 thể các khoản chỉ tiêu trong tháng trước đó mà chủ thẻ tín dụng đã sử dụng và yêu cầu chủ thẻ thanh toán.
Khi đó, chủ thẻ có thể chọn thanh toán toàn bộ số tiền trước hoặc trong thời hạn ghi trong thông báo,nếu chủ thẻ thanh toán đúng thời hạn thì sẽ không phải trả lãi và bất kỳ loại phí phát sinh nào. Ngoài ra, chủ thẻ có thê lựa chọn thanh toán số tiền tối thiểu trên sao kê (từ 5% -10% tùy thuộc vào quy định của từng ngân hàng), phần còn lại chủ thẻ có thể trả từ từ và sẽ bị tính lãi theo quy định của ngân hàng. Thẻ tin dụng thường được phân hạng nhằm quản lý đối tượng khách hàng (có thé theo thu nhập hoặc mức phi thẻ) như thẻ chuẩn (standard/classic), thẻ vàng (gold), thẻ bạch kim (platinum). Theo đó, chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng có hạng càng cao thì được hưởng càng nhiều ưu đãi.
Phan loại thẻ tín dung Xét theo yếu tố phạm vi, thẻ tín dụng được chia làm hai loại đó là thẻ tin dụng nội địa và thẻ tín dụng quốc tế. Thẻ tín dụng nội địa cho phép chủ thẻ có thé thanh toán, giao dịch trong phạm vi trong nước. Còn thẻ tín dụng quốc tế cho phép chủ thẻ không chỉ thanh toán trong nước mà còn phạm vi quốc tế. Xét theo yếu tố công nghệ sản xuất thẻ hiện nay trên thế giới, thẻ tín dụng được chia thành 3 loại đó là thẻ in nồi, thẻ từ và thẻ thông minh.
Thẻ in nôi là loại thẻ mà trên mặt thẻ khắc in nổi những thông tin cần thiết, loại thẻ này đã khá là dé bị làm giả, vì vậy rất ít khi được sử dụng. Thẻ từ là loại thẻ mà các thông tin vừa được in nổi ở mặt trước, vừa được mã hóa trong băng từ ở mặt sau. Các thông tin này phải khớp với nhau. Thẻ thông minh là loại thẻ mới nhất, có tinh an toàn và bảo mật rat cao, dua trên kỹ thuật xử lý tin học, gắn với thẻ chip được cấu tạo như một máy tính hoàn hảo.
Thẻ thông minh tuy tiện, nhưng do chi phi sản xuất cao vậy nên cũng không được sử dụng phổ biến. Pháp luật quy định về thẻ tín dụng. Theo thông tư số: 26/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017 của Thống đốc NHNNVN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, có hiệu lực thi hành ké từ ngày 03 tháng 03 năm 2018. Trong đó, tại chương III quy định về sử dung thẻ thì: “Điều 16 - Đối tượng được sử dụng thẻ bao gồm: - Đối với chủ thẻ chính là cá nhân: + Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự day đủ theo quy định của pháp luật được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước.
13 + Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước. - Đối với chủ thẻ chính là tổ chức: Tổ chức là pháp nhân được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam được sử dụng các loại thẻ. Chủ Thẻ là pháp nhân được ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân sử dụng thẻ của pháp nhân hoặc cho phép cá nhân sử dụng thẻ phụ theo quy định tại Thông tư này. - _ Đối với chủ thẻ phụ: chủ thẻ phụ được sử dụng thẻ theo chỉ định cụ thé của chủ thẻ chính nhưng chỉ trong phạm vi quy định sau đây: + Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước + Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mat hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được người đại diện theo pháp luật của người đó đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước.
+ Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi không bị mat hoặc hạn chế năng lực hành vi dan sự được người đại diện theo pháp luật của người đó đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ được sử dụng thẻ ghi nợ không được thấu chi, thẻ trả trước. + Trường hợp đối tượng được sử dụng thẻ quy định tại khoản 1, khoản 3. Điều này là người nước ngoài thì phải được phép cư trú tại Việt Nam với thời hạn từ 12 tháng trở lên”. “Điều 17- Nguyên tắc sử dụng thẻ: - Chủ thẻ phải cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết theo yêu cầu của TCPHT khi ký hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ và chịu trách nhiệm về tính trung thực của các thông tin mà mình cung cấp.
- Khi sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ được thấu chi, chủ thẻ phải sử dụng tiền đúng Mục đích và thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho TCPHT các Khoản tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo hợp đồng đã ký với TCPHT. - Pham vi sử dụng thẻ: + Thẻ ghi nợ, thẻ trả trước định danh được sử dụng để thực hiện các giao dịch thẻ theo thỏa thuận giữa chủ thẻ với TCPHT + Thẻ tín dụng được sử dụng dé thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ; nạp, rút tiền mặt theo thỏa thuận giữa chủ thẻ với TCPHT 14 + Thẻ trả trước vô danh chỉ được sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và không được rút tiền mặt + Thẻ phụ phát hành cho chủ thẻ phụ dưới 15 tuổi không được rút tiền mặt và chỉ được sử dụng dé thanh toán đúng Mục đích đã xác định theo thỏa thuận bằng văn bản giữa TCPHT va chủ thẻ chính”. “Điều 19 - Xử lý trong trường hợp mắt thẻ hoặc lộ thông tin thẻ: - Khi mất thẻ hoặc lộ thông tin thẻ, chủ thẻ phải thông báo ngay cho TCPHT. - _ Khi nhận được thông báo của chu thẻ, TCPHT phải thực hiện ngay việc khóa thẻ và phối hợp với các bên liên quan đề thực hiện các biện pháp nghiệp vụ cần thiết khác nhằm ngăn chặn các thiệt hại có thê xảy ra, đồng thời thông báo lại cho chủ thẻ.
Thời hạn TCPHT hoàn thành việc xử lý thông báo nhận được từ chủ thẻ không quá 05 ngày làm việc đối với thẻ có BIN do Ngân hàng Nhà nước cấp hoặc 10 ngày làm việc đối với thẻ có BIN do TCTQT cấp kể từ ngày nhận được thông báo của chủ thẻ. - _ Trong trường hợp thẻ bi lợi dung, gây ra thiệt hại, TCPHT va chủ thẻ phân định trách nhiệm và thương lượng cách xử lý hậu quả. Trường hợp hai bên không thống nhất thì việc xử lý được thực hiện theo quy định của pháp luật”. “Điều 20 - Tra soát, xử lý khiếu nại trong quá trình sử dụng thẻ: - _ Khi phát hiện có sai sót hoặc nghi ngờ có sai sót về giao dich thẻ,chủ thẻ có quyền yêu cầu TCPHT tra soát - TCPHT quy định cụ thé thời hạn chủ thẻ phải gửi yêu cầu tra soát cho TCPHT không được ít hơn 60 ngày ké từ ngày phát sinh giao dịch yêu cầu tra soat.-TCPHT có trách nhiệm giải quyết yêu cầu tra soát của chủ thẻ và trả lời cho chủ thẻ trong thời hạn do các bên liên quan thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp liên quan đến TCTTT thì TCPHT phải thông báo ngay choT CTTT và phối hợp với TCTTT, các bên liên quan dé giải quyết.