Chương 1, khóa luận đã xác định được sự cần thiết và mục tiêu nghiên cứu tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó, Chương này cũng đã xác định cụ thể các đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để làm rõ những đóng góp chủ yếu và cũng như là các điểm mới của đề tài. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Hành vi quản trị lợi nhuận Trong kinh tế học mối quan hệ giữa NĐT và NQL được gọi là quan hệ giữa ông chủ và người đại diện (pricipal - agent relationship). Người sử dụng BCTC là NĐT ở vị trí là ông chủ (pricipal), NQL đóng vai trò là người đại diện (agent relationship) phải đưa ra quyết định quản lý dựa trên những hành động có thể đem lại lợi ích cho ông chủ.
Nhưng thực tế, ngoài lợi ích của NĐT, NQL còn muốn trục lợi riêng cho bản thân. Sự sai lệch trong việc cung cấp thông tin BCTC trên được gọi là sự bất cân xứng thông tin (information asymmetry) trong mối quan hệ này đã tạo điều kiện cho NQL che đậy khuyết điểm, thúc đẩy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tương lai hay thậm chí là nhằm đạt những lợi ích cá nhân. Quản trị lợi nhuận (Earnings Management) là sự can thiệp có mục đích trong quá trình báo cáo tài chính (BCTC) ra bên ngoài với mục đích thu được lợi ích riêng (Schipper, 1998). Nó là “sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân.
Levitt (1998) định nghĩa quản trị lợi nhuận là một “mảng tối” mà ở đó, kế toán đã bị làm sai do nhà quản trị đã “cắt gọt” các khía cạnh của nó. Ronen và Yarri (2008) đã tổng hợp lại các quan điểm từ những nghiên cứu trước và đưa ra 3 nhóm quản trị lợi nhuận dựa trên mục tiêu công bố thông tin gồm: Nhóm quản trị lợi nhuận trắng nhằm gia tăng chất lượng BCTC, nhóm quản trị lợi nhuận xám nhằm gia tăng giá trị của DN hoặc lợi ích của nhà quản trị, và nhóm quản trị lợi nhuận đen nhằm làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của BCTC. Từ đó, hành vi QTLN là tập hợp các quyết định quản lý phạm pháp hoặc phi pháp nhằm tối đa hóa giá trị của DN thông qua việc điều chỉnh lợi nhuận thực trong ngắn hạn. Healy và Wahlen (1999) đưa ra định nghĩa toàn diện hơn về QTLN: Quản trị lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng xét đoán trong BCTC và xây dựng giao dịch để thay đổi các BCTC nhằm làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC hiểu sai về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán (ví dụ như hợp đồng tín dụng với ngân hàng hoặc hợp đồng thù lao giữa nhà quản trị và công ty).
Quản trị 5 lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997). Các NQL cũng có thể sử dụng những đánh giá chủ quan của mình để thao túng các thông tin về lợi nhuận nhằm làm đẹp BCTC và che đậy những điểm yếu trong kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Leuz và các cộng sự, 2003), hành vi này mang tính chất tiêu cực hay tích cực sẽ phụ thuộc vào mục đích của NQL. Tuy nhiên, hành vi quản trị lợi nhuận tác động làm sai lệch thông tin, dẫn tới gây hiểu nhầm cho NĐT, ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông nói riêng và của công ty nói chung. Nó làm lung lay lòng tin của NĐT vào giá trị của BCTC và thị trường chứng khoán.
Hành vi QTLN được chia thành hai loại cơ bản là: EM dựa trên biến kế toán dồn tích (accrual earnings management - AEM) và EM dựa trên sự dàn xếp các giao dịch thực tế (real earnings management - REM) (Gunny, 2005), (Dechow và Skinner, 2000), (Cohen và Zarowin, 2010). Mô hình nghiên cứu đầu tiên nói đến hành vi QTLN là nghiên cứu của Hepworth (1953). Trong đó, ông đã thực nghiệm và nêu rõ hành vi và cách vận hành của nhà quản trị lợi nhuận nhằm san bằng lợi nhuận (income smoothing) mục đích của hành động này là thay đổi góc nhìn của NĐT nhằm hạn chế rủi ro đối với DN. Mô hình nghiên cứu của Hepworth là nền móng cho nhiều nghiên cứu về hành vi QTLN sau này.
Định nghĩa của quản trị lợi nhuận thông qua cơ sở dồn tích (AEM) cũng từ đó mà được hình thành. AEM là hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua sự linh hoạt trong việc lựa chọn các chính sách và ước tính kế toán được chấp nhận bởi các quy định về kế toán. Một thời gian dài sau khi AEM được công bố thì REM mới được Schipper (1989) đưa vào định nghĩa quản trị lợi nhuận. Theo Schipper “mở rộng của định nghĩa quản trị lợi nhuận cần phải bao gồm quản trị lợi nhuận thực tế (real earnings managements), hành vi mà đạt được thông qua các quyết định về thời gian của các hoạt động đầu tư và tài chính để thay đổi lợi nhuận được báo cáo hoặc các chỉ tiêu liên quan”.
Trên cơ sở lý thuyết đó, Roychowdhury (2006) đã đưa ra một định nghĩa toàn diện hơn, theo ông đây là hành vi điều chỉnh đối với mức độ hoạt động bình thường của doanh nghiệp khiến các bên liên quan tin rằng những kết quả này là trong quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Cụ thể một số hành vi được xem là 6 REM bao gồm: đưa ra chính sách chiết khấu, nới lỏng thời hạn thanh toán một cách tiêu cực nhằm gia tăng doanh thu, cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí bán hàng và quản lý (SG&A), chi phí bảo trì, tiến hành sản xuất một cách thái quá nhằm giảm chi phí cố định phân bổ trên từng sản phẩm để có thể giảm giá vốn hàng bán và từ đó giúp gia tăng lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp. REM thay đổi hoạt động thực tế của doanh nghiệp nên sẽ tác động trực tiếp đến dòng tiền hiện tại và trong tương lai của một doanh nghiệp, còn AEM chỉ được thực hiện thông qua hoạt động kế toán. Các NQL có xu hướng lựa chọn REM hơn là AEM hoặc kết hợp cả hai phuong pháp này theo nghiên cứu của Graham và các cộng sự (2005) và Bruns và Merchant (1990).
Nguyên nhân là AEM dễ bị phát hiện bởi kiểm toán độc lập và kiểm tra bởi các cơ quan nhà nước. REM thường khó phát hiện hơn bởi nó lẫn vào các hoạt động thông thường của DN. Thêm vào đó, AEM thường chỉ xảy ra vào thời điểm cuối năm, còn REM có thể thực hiện bất kỳ thời điểm nào trong cả năm tài chính, điều này tạo nên sự linh động xoay chuyển cho NQL. NQL sẽ đánh giá kết quả hoạt động đạt được trong kỳ và xác định giá trị sẽ được thực hiện bằng quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích Chen (2009).
Cuối cùng, trong khảo sát nghiên cứu của Nguyễn Thị Phượng Loan và Nguyễn Minh Thao (2016) REM sẽ kéo dài sự ảnh hưởng của nó trong dài hạn còn AEM bắt buộc phải được NQL hoàn nhập vào năm sau, vì vậy AEM dễ tạo ra sự nghi ngờ giữa NĐT đối với BCTC vì sự giảm đột ngột của lợi nhuận trong cùng một kỳ.2 Các chỉ số tài chính Trước khi NĐT đánh giá tình hình tài chính của DN họ sẽ thường dựa vào hệ thống BCTC gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC. Ngoài 4 yếu tố trên thì CSTC cũng được đánh giá là quan trọng không kém cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin tài chính (Brigham và Ehrhardt, 2005). CSTC thể hiện thông tin so sánh qua các kỳ, năm báo cáo và chúng thể hiện những dữ liệu một cách tổng quát của BCTC, thông qua đó NĐT có thể dự đoán được kết quả kinh doanh tương lai của doanh nghiệp. Chỉ số tài chính được chia thành bốn loại chính: chỉ số lợi nhuận hay lợi tức đầu tư, khả năng thanh khoản, chỉ số đòn bẩy, chỉ số hoạt động và hiệu quả.
Tùy vào mục đích của người sử dụng BCTC mà họ quan tâm đến các chỉ số có chức năng khác 7 nhau (Gitman, 2009). Các cổ đông của một doanh nghiệp hầu hết quan tâm chỉ số lợi nhuận, sinh lời, lợi tức của việc đầu tư và giá trị của doanh nghiệp. Những NĐT thường có xu hướng quan tâm sử dụng các CSTC có liên quan đến tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó NĐT có thể đưa ra quyết định, chiến lược cụ thể về giá trị doanh nghiệp, thời điểm đầu tư. Một số CSTC tác động đến hành vi QTLN được tổng hợp trong tất cả các nghiên cứu về hành vi QTLN tiêu biểu như tỷ suất sinh lời, đòn bẩy tài chính; quy mô doanh nghiệp, tính thanh khoản.
Và chúng được biết đến với vai trò là các biến độc lập hoặc các biến kiểm soát.2 Những vấn đề cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận 2.1 Động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận Động cơ về thị trường vốn Trong doanh nghiệp thông thường các cổ đông hoặc công đoàn công ty sẽ áp lực lên NQL mức lợi nhuận không được thấp hơn quá nhiều so với dự báo. Điều này thúc đẩy NQL thực hiện hành vi QTLN nhằm đạt được mức lợi nhuận bằng hoặc vượt so với lợi nhuận đã dự báo. Các NQL sẽ có xu hướng thực hiện hành vi QTLN nhằm đạt được các mục tiêu như: phát hành cổ phiếu ra công chúng, mua bán doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp (Đào Thị Ngọc Thương, 2015). Khi NĐT ra quyết định đầu tư một doanh nghiệp cũng thường có xu hướng thích các doanh nghiệp có lợi nhuận cao thay vì một doanh nghiệp lỗ, cộng thêm việc thất bại khi không đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng của NQL cũng bị trừng phạt bởi thị trường.
Tại Việt Nam, Huỳnh Thị Vân (2012) cũng chỉ ra rằng hầu hết các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đều tiến hành điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu. Tất cả yếu tố trên thuộc thị trường vốn đã thúc đẩy NQL tác động thay đổi thông tin lợi nhuận trên BCTC và che đậy những khuyết điểm trong tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.