Nhân Tố Tác Động Đến Hành Vi Quản Trị Lợi Nhuận Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Niêm Yết

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu 0623 nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận tại nhtm cp niêm yết trên sàn giao dịch chứng, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

86
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận tại ngân hàng niêm yết

Quản trị lợi nhuận là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Nó liên quan đến việc điều chỉnh lợi nhuận để đạt được các mục tiêu tài chính nhất định. Các ngân hàng niêm yết thường phải đối mặt với nhiều áp lực từ thị trường và các nhà đầu tư, điều này dẫn đến việc quản lý lợi nhuận trở thành một vấn đề cần thiết. Nghiên cứu này sẽ xem xét các nhân tố chính ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết.

1.1. Định nghĩa và tầm quan trọng của quản trị lợi nhuận

Quản trị lợi nhuận được định nghĩa là hành vi điều chỉnh lợi nhuận để đáp ứng các yêu cầu của các bên liên quan. Tầm quan trọng của nó nằm ở việc giúp ngân hàng duy trì hình ảnh và giá trị trên thị trường.

1.2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận

Các yếu tố như quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, và tính thanh khoản được xác định là những nhân tố chính ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các ngân hàng niêm yết.

II. Vấn đề và thách thức trong quản trị lợi nhuận tại ngân hàng niêm yết

Quản trị lợi nhuận tại ngân hàng niêm yết không chỉ đơn thuần là việc tối ưu hóa lợi nhuận mà còn phải đối mặt với nhiều thách thức. Các ngân hàng thường phải cân nhắc giữa việc báo cáo lợi nhuận thực tế và việc điều chỉnh lợi nhuận để đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư.

2.1. Rủi ro tài chính trong quản trị lợi nhuận

Rủi ro tài chính có thể phát sinh từ việc điều chỉnh lợi nhuận không chính xác, dẫn đến những quyết định sai lầm từ phía nhà đầu tư và các bên liên quan.

2.2. Áp lực từ thị trường và nhà đầu tư

Ngân hàng niêm yết thường phải chịu áp lực từ thị trường và nhà đầu tư để báo cáo lợi nhuận cao hơn, điều này có thể dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận không minh bạch.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng trong giai đoạn 2015-2019.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu được thiết kế để thu thập dữ liệu từ 14 ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết, sử dụng các chỉ số tài chính như ROA, ROE và đòn bẩy tài chính.

3.2. Phân tích dữ liệu và mô hình hồi quy

Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp hồi quy FGLS để xác định mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và hành vi quản trị lợi nhuận.

IV. Kết quả nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có ba nhân tố chính có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các ngân hàng niêm yết. Cụ thể, tỷ suất sinh lời và tính thanh khoản có tác động ngược chiều đến hành vi này.

4.1. Tác động của tỷ suất sinh lời đến quản trị lợi nhuận

Tỷ suất sinh lời được xác định là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận, với mối quan hệ ngược chiều.

4.2. Tác động của tính thanh khoản đến quản trị lợi nhuận

Tính thanh khoản cũng có tác động ngược chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận, cho thấy rằng ngân hàng cần duy trì mức thanh khoản hợp lý để tránh rủi ro.

V. Khuyến nghị và giải pháp cho quản trị lợi nhuận tại ngân hàng niêm yết

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đưa ra nhằm cải thiện quản trị lợi nhuận tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết. Các ngân hàng cần thiết lập cơ chế kiểm soát nội bộ hiệu quả và nâng cao nhận thức của nhà quản lý.

5.1. Cải thiện cơ chế kiểm soát nội bộ

Ngân hàng cần thiết lập các quy trình kiểm soát nội bộ chặt chẽ để hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận không minh bạch.

5.2. Nâng cao nhận thức của nhà quản lý

Cần tổ chức các khóa đào tạo để nâng cao nhận thức của nhà quản lý về tầm quan trọng của việc báo cáo tài chính chính xác và minh bạch.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của quản trị lợi nhuận

Quản trị lợi nhuận tại các ngân hàng niêm yết là một vấn đề phức tạp và cần được nghiên cứu sâu hơn. Tương lai của quản trị lợi nhuận sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của các quy định và tiêu chuẩn kế toán.

6.1. Tương lai của quản trị lợi nhuận trong ngành ngân hàng

Sự phát triển của công nghệ và các quy định mới sẽ ảnh hưởng đến cách thức quản trị lợi nhuận trong ngành ngân hàng.

6.2. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận và cách thức cải thiện nó trong tương lai.

16/07/2025
0623 nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận tại nhtm cp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp hcm khóa luận kế toán kiểm toán nguyễn vũ hải

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, khóa luận đã xác định được sự cần thiết và mục tiêu nghiên cứu tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó, Chương này cũng đã xác định cụ thể các đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để làm rõ những đóng góp chủ yếu và cũng như là các điểm mới của đề tài. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Hành vi quản trị lợi nhuận Trong kinh tế học mối quan hệ giữa NĐT và NQL được gọi là quan hệ giữa ông chủ và người đại diện (pricipal - agent relationship). Người sử dụng BCTC là NĐT ở vị trí là ông chủ (pricipal), NQL đóng vai trò là người đại diện (agent relationship) phải đưa ra quyết định quản lý dựa trên những hành động có thể đem lại lợi ích cho ông chủ.

Nhưng thực tế, ngoài lợi ích của NĐT, NQL còn muốn trục lợi riêng cho bản thân. Sự sai lệch trong việc cung cấp thông tin BCTC trên được gọi là sự bất cân xứng thông tin (information asymmetry) trong mối quan hệ này đã tạo điều kiện cho NQL che đậy khuyết điểm, thúc đẩy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tương lai hay thậm chí là nhằm đạt những lợi ích cá nhân. Quản trị lợi nhuận (Earnings Management) là sự can thiệp có mục đích trong quá trình báo cáo tài chính (BCTC) ra bên ngoài với mục đích thu được lợi ích riêng (Schipper, 1998). Nó là “sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân.

Levitt (1998) định nghĩa quản trị lợi nhuận là một “mảng tối” mà ở đó, kế toán đã bị làm sai do nhà quản trị đã “cắt gọt” các khía cạnh của nó. Ronen và Yarri (2008) đã tổng hợp lại các quan điểm từ những nghiên cứu trước và đưa ra 3 nhóm quản trị lợi nhuận dựa trên mục tiêu công bố thông tin gồm: Nhóm quản trị lợi nhuận trắng nhằm gia tăng chất lượng BCTC, nhóm quản trị lợi nhuận xám nhằm gia tăng giá trị của DN hoặc lợi ích của nhà quản trị, và nhóm quản trị lợi nhuận đen nhằm làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của BCTC. Từ đó, hành vi QTLN là tập hợp các quyết định quản lý phạm pháp hoặc phi pháp nhằm tối đa hóa giá trị của DN thông qua việc điều chỉnh lợi nhuận thực trong ngắn hạn. Healy và Wahlen (1999) đưa ra định nghĩa toàn diện hơn về QTLN: Quản trị lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng xét đoán trong BCTC và xây dựng giao dịch để thay đổi các BCTC nhằm làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC hiểu sai về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán (ví dụ như hợp đồng tín dụng với ngân hàng hoặc hợp đồng thù lao giữa nhà quản trị và công ty).

Quản trị 5 lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997). Các NQL cũng có thể sử dụng những đánh giá chủ quan của mình để thao túng các thông tin về lợi nhuận nhằm làm đẹp BCTC và che đậy những điểm yếu trong kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Leuz và các cộng sự, 2003), hành vi này mang tính chất tiêu cực hay tích cực sẽ phụ thuộc vào mục đích của NQL. Tuy nhiên, hành vi quản trị lợi nhuận tác động làm sai lệch thông tin, dẫn tới gây hiểu nhầm cho NĐT, ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông nói riêng và của công ty nói chung. Nó làm lung lay lòng tin của NĐT vào giá trị của BCTC và thị trường chứng khoán.

Hành vi QTLN được chia thành hai loại cơ bản là: EM dựa trên biến kế toán dồn tích (accrual earnings management - AEM) và EM dựa trên sự dàn xếp các giao dịch thực tế (real earnings management - REM) (Gunny, 2005), (Dechow và Skinner, 2000), (Cohen và Zarowin, 2010). Mô hình nghiên cứu đầu tiên nói đến hành vi QTLN là nghiên cứu của Hepworth (1953). Trong đó, ông đã thực nghiệm và nêu rõ hành vi và cách vận hành của nhà quản trị lợi nhuận nhằm san bằng lợi nhuận (income smoothing) mục đích của hành động này là thay đổi góc nhìn của NĐT nhằm hạn chế rủi ro đối với DN. Mô hình nghiên cứu của Hepworth là nền móng cho nhiều nghiên cứu về hành vi QTLN sau này.

Định nghĩa của quản trị lợi nhuận thông qua cơ sở dồn tích (AEM) cũng từ đó mà được hình thành. AEM là hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua sự linh hoạt trong việc lựa chọn các chính sách và ước tính kế toán được chấp nhận bởi các quy định về kế toán. Một thời gian dài sau khi AEM được công bố thì REM mới được Schipper (1989) đưa vào định nghĩa quản trị lợi nhuận. Theo Schipper “mở rộng của định nghĩa quản trị lợi nhuận cần phải bao gồm quản trị lợi nhuận thực tế (real earnings managements), hành vi mà đạt được thông qua các quyết định về thời gian của các hoạt động đầu tư và tài chính để thay đổi lợi nhuận được báo cáo hoặc các chỉ tiêu liên quan”.

Trên cơ sở lý thuyết đó, Roychowdhury (2006) đã đưa ra một định nghĩa toàn diện hơn, theo ông đây là hành vi điều chỉnh đối với mức độ hoạt động bình thường của doanh nghiệp khiến các bên liên quan tin rằng những kết quả này là trong quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Cụ thể một số hành vi được xem là 6 REM bao gồm: đưa ra chính sách chiết khấu, nới lỏng thời hạn thanh toán một cách tiêu cực nhằm gia tăng doanh thu, cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí bán hàng và quản lý (SG&A), chi phí bảo trì, tiến hành sản xuất một cách thái quá nhằm giảm chi phí cố định phân bổ trên từng sản phẩm để có thể giảm giá vốn hàng bán và từ đó giúp gia tăng lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp. REM thay đổi hoạt động thực tế của doanh nghiệp nên sẽ tác động trực tiếp đến dòng tiền hiện tại và trong tương lai của một doanh nghiệp, còn AEM chỉ được thực hiện thông qua hoạt động kế toán. Các NQL có xu hướng lựa chọn REM hơn là AEM hoặc kết hợp cả hai phuong pháp này theo nghiên cứu của Graham và các cộng sự (2005) và Bruns và Merchant (1990).

Nguyên nhân là AEM dễ bị phát hiện bởi kiểm toán độc lập và kiểm tra bởi các cơ quan nhà nước. REM thường khó phát hiện hơn bởi nó lẫn vào các hoạt động thông thường của DN. Thêm vào đó, AEM thường chỉ xảy ra vào thời điểm cuối năm, còn REM có thể thực hiện bất kỳ thời điểm nào trong cả năm tài chính, điều này tạo nên sự linh động xoay chuyển cho NQL. NQL sẽ đánh giá kết quả hoạt động đạt được trong kỳ và xác định giá trị sẽ được thực hiện bằng quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích Chen (2009).

Cuối cùng, trong khảo sát nghiên cứu của Nguyễn Thị Phượng Loan và Nguyễn Minh Thao (2016) REM sẽ kéo dài sự ảnh hưởng của nó trong dài hạn còn AEM bắt buộc phải được NQL hoàn nhập vào năm sau, vì vậy AEM dễ tạo ra sự nghi ngờ giữa NĐT đối với BCTC vì sự giảm đột ngột của lợi nhuận trong cùng một kỳ.2 Các chỉ số tài chính Trước khi NĐT đánh giá tình hình tài chính của DN họ sẽ thường dựa vào hệ thống BCTC gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC. Ngoài 4 yếu tố trên thì CSTC cũng được đánh giá là quan trọng không kém cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin tài chính (Brigham và Ehrhardt, 2005). CSTC thể hiện thông tin so sánh qua các kỳ, năm báo cáo và chúng thể hiện những dữ liệu một cách tổng quát của BCTC, thông qua đó NĐT có thể dự đoán được kết quả kinh doanh tương lai của doanh nghiệp. Chỉ số tài chính được chia thành bốn loại chính: chỉ số lợi nhuận hay lợi tức đầu tư, khả năng thanh khoản, chỉ số đòn bẩy, chỉ số hoạt động và hiệu quả.

Tùy vào mục đích của người sử dụng BCTC mà họ quan tâm đến các chỉ số có chức năng khác 7 nhau (Gitman, 2009). Các cổ đông của một doanh nghiệp hầu hết quan tâm chỉ số lợi nhuận, sinh lời, lợi tức của việc đầu tư và giá trị của doanh nghiệp. Những NĐT thường có xu hướng quan tâm sử dụng các CSTC có liên quan đến tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó NĐT có thể đưa ra quyết định, chiến lược cụ thể về giá trị doanh nghiệp, thời điểm đầu tư. Một số CSTC tác động đến hành vi QTLN được tổng hợp trong tất cả các nghiên cứu về hành vi QTLN tiêu biểu như tỷ suất sinh lời, đòn bẩy tài chính; quy mô doanh nghiệp, tính thanh khoản.

Và chúng được biết đến với vai trò là các biến độc lập hoặc các biến kiểm soát.2 Những vấn đề cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận 2.1 Động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận Động cơ về thị trường vốn Trong doanh nghiệp thông thường các cổ đông hoặc công đoàn công ty sẽ áp lực lên NQL mức lợi nhuận không được thấp hơn quá nhiều so với dự báo. Điều này thúc đẩy NQL thực hiện hành vi QTLN nhằm đạt được mức lợi nhuận bằng hoặc vượt so với lợi nhuận đã dự báo. Các NQL sẽ có xu hướng thực hiện hành vi QTLN nhằm đạt được các mục tiêu như: phát hành cổ phiếu ra công chúng, mua bán doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp (Đào Thị Ngọc Thương, 2015). Khi NĐT ra quyết định đầu tư một doanh nghiệp cũng thường có xu hướng thích các doanh nghiệp có lợi nhuận cao thay vì một doanh nghiệp lỗ, cộng thêm việc thất bại khi không đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng của NQL cũng bị trừng phạt bởi thị trường.

Tại Việt Nam, Huỳnh Thị Vân (2012) cũng chỉ ra rằng hầu hết các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đều tiến hành điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu. Tất cả yếu tố trên thuộc thị trường vốn đã thúc đẩy NQL tác động thay đổi thông tin lợi nhuận trên BCTC và che đậy những khuyết điểm trong tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quản Trị Lợi Nhuận Tại Ngân Hàng Niêm Yết" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến việc quản lý lợi nhuận trong các ngân hàng niêm yết. Tài liệu này không chỉ phân tích các chỉ số tài chính mà còn khám phá mối quan hệ giữa các yếu tố này và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp họ hiểu rõ hơn về cách thức quản trị lợi nhuận có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngân hàng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn ảnh hưởng của các chỉ số tài chính đến khả năng sinh lợi của hệ thống ngân hàng khu vực châu á thái bình dương", nơi phân tích sâu hơn về các chỉ số tài chính và tác động của chúng đến lợi nhuận ngân hàng.

Ngoài ra, tài liệu "Luận văn tác động của uy tín công ty kiểm toán đến quản trị lợi nhuận earnings management tại các ngân hàng tmcp việt nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của uy tín trong việc quản lý lợi nhuận tại các ngân hàng thương mại cổ phần.

Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Luận văn nghiên cứu tác động của tỷ số giá trên thu nhập tại thị trường chứng khoán việt nam kiểm định thị trường hiệu quả", tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về mối liên hệ giữa tỷ số giá và thu nhập trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận trong ngành ngân hàng.