Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu liên quan đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Chương 3: Thực trạng về các chỉ số tài chính và chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của hệ thống ngân hàng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng sinh lợi cho hệ thống ngân hàng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.8 Ý nghĩa khoa học của đề tài - Về mặt ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần củng cố, nối dài các nghiên cứu trước đây trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận của ngân hàng và xác định chiều ảnh hưởng của các nhân tố này đến khả năng sinh lợi trong thị trường ngân hàng. Các nhà nghiên cứu có thể sử dụng kết quả nghiên cứu này để phát triển, mở rộng hướng nghiên cứu tiếp theo cho mình. - Về mặt ý nghĩa thực tế: Nhà quản trị ngân hàng, cơ quan quản lý trong khu vực có thể tham khảo kết quả nghiên cứu để đưa ra các chiến lược, biện pháp phù hợp trong công tác điều hành tại các ngân hàng, góp phần tránh được các rủi ro từ cú sốc tài chính, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như gia tăng lợi nhuận của hệ thống ngân hàng. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG Giới thiệu chƣơng Chương 2 đưa ra khái niệm về lợi nhuận, khả năng sinh lợi, các chỉ số tài chính ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi.
Đồng thời, chương 2 cũng nêu ra những lí do cho thấy khả năng sinh lợi đóng góp một phần vô cùng quan trọng trọng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cuối chương 2, tác giả trình bày các chỉ số tài chính ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của hệ thống ngân hàng trong các nghiên cứu trước đây và đánh giá tầm quan trọng của các chỉ số này.1 Các vấn đề cơ bản về khả năng sinh lợi của ngân hàng 2.1 Khái niệm về lợi nhuận Lợi nhuận của tổ chức tín dụng là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu phải thu trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý hợp lệ (Trần Huy Hoàng, 2011). Lợi nhuận càng cao có nghĩa quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động, điều đó rất có lợi cho quá trình hoạt động của hệ thống ngân hàng.Rose (2002) đã khái niệm về lợi nhuận ngân hàng rằng: các ngân hàng về cơ bản đạt được lợi nhuận từ hoạt động cho vay thông qua sự khác biệt giữa lãi suất trả cho người gửi tiền và lãi suất nhận được từ khách hàng vay. Thêm vào đó thu từ các khoản đầu tư chứng khoán, tiền gửi hưởng lãi tại các ngân hàng khác và các tài sản có sinh lời khác.
Những khoản chi phí phát sinh trong quá trình tạo ra nguồn thu trên bao gồm tiền lãi trả cho những khoản vay, chi phí vốn tự có, tiền lương và phúc lợi trả cho nhân viên, chi phí hoạt động liên quan đến tài sản vật chất của ngân hàng, phân bổ dự phòng tín dụng, thuế và những chi phí khác. Chênh lệch giữa các khoản thu và chi phí trên là lợi nhuận của ngân hàng.2 Khái niệm về khả năng sinh sinh lợi Khả năng sinh lợi là việc ngân hàng có thể đạt được một tỷ lệ thu nhập từ số tiền đầu tư của chủ sở hữu hay không. Theo Amico và các cộng sự (2011), khả năng sinh lợi cho thấy tính hiệu quả của việc quản lý các nguồn lực sẵn có trên thị trường để có thể tạo ra lợi nhuận. Khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính mà ngân hàng đang nắm giữ.
Khả năng sinh lời phản ánh mức độ hoạt động hiệu quả của ngân hàng như thế nào trong môi trường kinh doanh. Trong thực tế, khả năng sinh lời của ngân hàng phản ánh chất lượng của cấp quản trị và hành vi chủ sở hữu cũng như chiến lược cạnh tranh, hiệu quả và khả năng quản trị rủi ro (Alicia García-Herreroa, Sergio Gaviláb và Daniel Santabárbara, 2009).2 Các chỉ tiêu đo lƣờng khả năng sinh lợi của ngân hàng Theo Peter S.Rose (2002), về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần và thu hút vốn đầu tư. Trong các nghiên cứu của Liu và Wilson (2010), Dietrich và Wanzenried (2011) tỷ lệ thu nhập lãi cận biên làm yếu tố đại diện khả năng sinhlời của ngân hàng.
Trong khi hai chỉ tiêu ROA và ROE được hầu hết các tác giả sử dụng để đo lường lợi nhuận ngân hàng thương mại, các nghiên cứu này sẽ được nêu ra cụ thể trong phần tiếp theo. Theo luận điểm Peter S. Do đó hai chỉ tiêu đo lường lợi nhuận này cũng sẽ được tôi sử dụng trong bài nghiên cứu.1 Doanh thu trên tổng tài sản (Return on assets - ROA) Đây là một chỉ số đánh giá về lợi nhuận của tổ chức nhận tiền gửi và được 7 dùng để đo lường hiệu quả trong sử dụng tài sản củahọ. ROA thể hiện hiệu quả của từng đồng vốn đầu tư vào tài sản và quan trọng hơn thể hiện khả năng của nhà quản trị trong việc sử dụng nguồn tài chính và đầu tư để sinh lợi (Hassan và cộng sự 2003).
Bên cạnh đó ROA thể hiện khả năng của đơn vị trong việc sử dụng các tài sản của mình để tạo ra lợi nhuận. ROA càng cao thể hiện khả năng quản lý của Ban quản trị ngân hàng trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận. Thể hiện hiệu quả kinh doanh cao của ngân hàng với cơ cấu tài sản sinh lời và không sinh lời khá hợp lý. Tuy nhiên, ROA quá cao không phải là tín hiệu tốt đối với các ngân hàng vì trong tình huống đó ngân hàng đang rơi vào tình trạng rủi ro cao do lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro có mối quan hệ thuận chiều.
Theo chuẩn mực đánh giá năng lực tài chính của Moody‟s và khung phân tích CAMEL thì các chỉ tiêu khả năng sinh lời được đánh giá tốt trong khung: ROA≥1%.2 Doanh thu trên vốn chủ sở hữu (Return on equity - ROE) Đây cũng là một chỉ số đánh giá về lợi nhuận của tổ chức nhận tiền gửi và được dùng để đo lường hiệu quả của tổ chức nhận tiền gửi trong việc sử dụngvốn. ROE thể hiện 1 đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một khoản thời gian nhất định (thường là 1 năm). Hay ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông (chủ sở hữu ngân hàng) có được từ nguồn vốn bỏ ra. Tỷ lệ này càng cao thể hiện việc sử dụng vốn của ngân hàng trong đầu tư và cho vay càng hiệu quả, các nhà quản trị ngân hàng luôn muốn tăng ROE để thỏa mãn yêu cầu của cổ đông thông qua nhiều biện pháp như kiểm soát rủi ro có hiệu quả, hạn chế khoản vay xấu.
Các chỉ tiêu ROA, ROE thường được các nhà quản trị, các nhà đầu tư quan tâm, sử dụng khi đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chúng thể hiện khả năng sinh lời, thời hạn thu hồi vốn đầu tư của chủ sở hữu. Hiệu quả của việc sử dụng vốn và tài sản của ngân hàng càng cao là cơ sở để ngân hàng tăng 8 quy mô vốn cũng như năng lực tài chính của mình. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa ROA và ROE thể hiện rõ sự đánh đổi cơ bản giữa rủi ro và lợi nhuận mà nhà quản lý ngân hàng phải đối mặt (Peter S.
Mô hình đánh đổi rủi ro - lợi nhuận thể hiện mối liên hệ giữa các tỷ lệ sinh lợi: Tổng tài sản ROE = ROA × Tổng vốn chủ sở hữu Hay: ROE = ROA x hệ số đòn bẫy tài chính. ROE phụ thuộc vào khả năng sinh lời của tài sản mà ngân hàng nắm giữ và cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng. ROE của ngân hàng sẽ tăng nếu hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng tăng và/hoặc tỷ trọng vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong tổng nguồn vốn giảm. Mối quan hệ trong công thức cho thấy thu nhập của ngân hàng rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản – sử dụng nhiều nợ hơn (gồm cả tiền gửi) hoặc nhiều vốn chủ sở hữu hơn.
Thậm chí một ngân hàng có ROA thấp có thể đạt được ROE khá cao thông qua việc sử dụng nhiều nợ (đòn bẫy tài chính) và sử dụng tối thiểu vốn chủ sở hữu. Trên thực tế, mối quan hệ của ROE và ROA thể hiện rõ sự đánh đổi cơ bản giữa rủi ro và thu nhập mà các nhà quản lý ngân hàng phải đối mặt. Bởi vì việc gia tăng vốn chủ sở hữu có thể sẽ làm giảm thu nhập trong trường hợp này. Theo chuẩn mực đánh giá năng lực tài chính của Moody‟s, các chỉ tiêu khả năng sinh lời được đánh giá tốt trong khung: ROA≥12-15%.Theo khung phân tích CAMEL thì ROE ≥15-20%.3 Các chỉ số tài chính ảnh hƣởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Có nhiều nghiên cứu về khả năng sinh lợi của ngân hàng, cơ bản dựa trên 2 lý thuyết: lý thuyết quyền lực thị trường (MP – Market Power) tức khả năng sinh lời của ngân hàng là một hàm theo các yếu tố thị trường và lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES – Efficient Structure) tức khả năng sinh lời của ngân hàng chịu ảnh hưởng của 9 hiệu quả nội bộ và quyết định quản trị hay các yếu tố bên trong.
Ngoài ra, lý thuyết về danh mục đầu tư cân bằng (Balanced Porfolio Theory) cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn trong việc nghiên cứu về khả năng sinh lời của ngân hàng, nghĩa là nhà đầu tư có thể tối thiểu hóa rủi ro thị trường cho một mức lợi nhuận kỳ vọng thông qua việc tạo ra danh mục đầu tư đa dạng hóa (Nzongang và Atemnkeng, 2006). Nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào các lý thuyết trên để đưa thêm các biến vào mô hình, và phần lớn đều thừa nhận rằng khả năng sinh lợi của ngân hàng là một hàm theo cả các yếu tố bên trong và bên ngoài (Olweny và Shipho, 2011).