CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN (NIM) VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NIM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN (NIM). Khái niệm tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin – NIM) của các ngân hàng được định nghĩa là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản.
Biên độ được tính cho một khoảng thời gian, một quý hoặc một năm và được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm (Golin, 2001) [18]. NIM = (Thu nhập lãi – Chi phí lãi) / Tổng tài sản. Trong đó: Thu nhập lãi là thu nhập từ lãi cho vay khách hàng, lãi tiền gửi, lãi chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, lãi cho thuê tài chính, lãi từ nghiệp vụ mua bán nợ, thu nhập khác từ hoạt động tín dụng. Chi phí lãi là khoản chi phí trả lãi tiền gửi khách hàng, lãi tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác, lãi phát hành giấy tờ có giá, chi phí khác cho hoạt động tín dụng.
Ý nghĩa của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là đối với hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam, bởi trong cơ cấu hoạt động của các NHTM Việt Nam, thu từ lãi chiếm tỷ lệ rất cao (khoảng 70%) trong khi thu từ dịch vụ chỉ chiếm khoảng 30%. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là thước đo hiệu quả cũng như khả năng sinh lời. Nó cho ta thấy năng lực của ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của chi phí.
Thông qua tỷ lệ này, ngân 7 hàng có thể kiểm soát tài sản và đánh giá nguồn vốn nào có chi phí thấp, giúp các nhà quản trị ngân hàng trong việc quản lý tốt hơn các tài sản để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VỀ TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN. Nghiên cứu của Ho và Saunder (1981) tạo tiền đề cho rất nhiều nghiên cứu sau này về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Trước nghiên cứu của Ho và Saunder (1981), có hai nhóm mô hình giải thích về hoạt động ngân hàng.
Nhóm thứ nhất dựa trên giả thuyết về tự bảo hiểm cho rằng ngân hàng luôn luôn tìm cách làm cho thời hạn của các khoản cho vay và các khoản tiền gửi cân xứng nhau, nhằm tránh rủi ro tái đầu tư hoặc rủi ro tái tài trợ nảy sinh từ sự không cân xứng trong thời hạn của các khoản cho vay và các khoản tiền gửi. Vì thế, nhóm này cho rằng biến động lãi suất là rủi ro chủ yếu của hoạt động ngân hàng và là yếu tố quyết định đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Tuy nhiên, nhóm mô hình này không gắn kết hoạt động của ngân hàng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Nhóm thứ hai dựa trên giả thuyết về sự hữu dụng (utility) mong đợi cho rằng các ngân hàng hoạt động nhằm tối đa hóa lợi nhuận mong đợi hoặc tối đa hóa sự hữu dụng mong đợi từ lợi nhuận.
Với giả định đó, Pyle (1971) xác định các điều kiện cần và đủ đối với sự tồn tại của một trung gian tài chính. Theo đó, nếu lãi suất cho vay và lãi suất huy động là độc lập với nhau thì trung gian tài chính sẽ tồn tại nếu có sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay, trong đó lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động [31]. Tuy nhiên, nhóm mô hình thứ hai không phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động và cũng không phân tích xem sự chênh lệch lãi suất đó sẽ thay đổi như thế nào khi lãi suất thị trường và các yếu tố khác thay đổi. 8 Nghiên cứu của Ho và Saunder (1981) đã mở rộng và gắn kết hai nhóm mô hình nghiên cứu trên thành mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM).
Ho và Saunder (1981) đưa ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng bằng hàm số sau: 1 S= R i2Q 2 Trong đó: đo lường độ co giãn của cung và cầu về vốn trong phân khúc thị trường mà ngân hàng hoạt động. Nếu một ngân hàng phải đối mặt với độ co giãn tương đối thấp của cầu và cung ( hệ số cao) thì ngân hàng đó có thể lợi dụng vị thế độc quyền để tăng chênh lệch lãi suất thuần. R đo lường mức độ ngại rủi ro. Q đo lường quy mô giao dịch.
i2 đo lường phương sai của lãi suất. Theo công thức trên, khi các yếu tố khác không đổi, R, Q và i2 đều có quan hệ tỷ lệ thuận với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Mô hình lý thuyết chỉ ra rằng NIM phụ thuộc trên bốn yếu tố: mức ngại rủi ro, cấu trúc thị trường, quy mô giao dịch, lãi suất cho vay và tiền gửi. Các yếu tố như mức ngại rủi ro, quy mô giao dịch, rủi ro lãi suất đều có quan hệ tỷ lệ thuận với NIM khi các yếu tố khác không đổi.
Cấu trúc cạnh tranh trên thị trường phụ thuộc vào độ co giãn của nhu cầu vay vốn và nguồn cung tiền gửi, sao cho độ co giãn nhu cầu cho tín dụng (hoặc nguồn cung tiền gửi) càng ít, giá trị của độ co giãn càng nhỏ, ngân hàng sẽ có thể áp dụng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao nếu ngân hàng là độc quyền [22]. 9 Mô hình ban đầu của Ho và Saunders (1981) đã được mở rộng về mặt lý thuyết bởi các tác giả khác. Sau Ho và Saunder, Mc Shane và Sharpe (1985) xây dựng mô hình xác định tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng dựa trên giả thuyết tự bảo hiểm. Điểm khác biệt chủ yếu so với mô hình của Ho và Saunder (1981) là trong mô hình của Mc Shane và Sharpe (1985), rủi ro gắn liền với sự thay đổi liên tục trong lãi suất ngắn hạn của thị trường tiền tệ chứ không phải gắn với lãi suất huy động và lãi suất cho vay [29].
Mô hình cuối cùng của hai tác giả này cũng tương tự như mô hình của Ho và Saunder (1981) rằng mức ngại rủi ro, cấu trúc thị trường, quy mô các giao dịch, lãi suất cho vay và tiền gửi ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên [22]. Theo Mc Shane và Sharpe (1985) thì mức ngại rủi ro, quy mô các giao dịch, lãi suất cho vay và tiền gửi có quan hệ tỷ lệ thuận với NIM của các ngân hàng thương mại [29]. Allen (1988) mở rộng mô hình lý thuyết với nhiều loại hình cho vay có nhu cầu phụ thuộc lẫn nhau và kết luận rằng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên có thể được giảm khi có sự co giãn nhu cầu giữa các sản phẩm của ngân hàng. Tác giả này cho rằng các ngân hàng sợ rủi ro mà phải đối mặt với thời gian đến không cân bằng từ các nhu cầu vay và nhu cầu gửi sẽ chọn mức lãi tối ưu cho vay và gửi, từ đó giảm thiểu rủi ro của nhu cầu cho vay vượt quá mức hoặc không đủ nguồn cung cấp tiền gửi [7].
Dựa trên các mô hình lý thuyết, bên cạnh các yếu tố như vị thế ngân hàng, rủi ro vỡ nợ, biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ, Angbazo (1997) giới thiệu rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất vào mô hình lý thuyết, cũng như sự tương tác giữa hai loại rủi ro. Tác giả cho rằng rủi ro tín dụng có thể liên quan đến rủi ro lãi suất vì lãi suất thị trường thay đổi có thể là một nguyên nhân làm tăng các khoản nợ xấu của ngân hàng. Ông khẳng định mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro tín dụng và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng 10 thương mại. Angbazo (1997) cho rằng rủi ro tín dụng được tính theo tỷ số dự phòng rủi ro cho vay trên tổng dư nợ, các khoản ứng trước và các khoản phải thu khác của ngân hàng.
Rủi ro lãi suất được thể hiện bằng độ lệch chuẩn của lãi suất hằng ngày của trái phiếu Chính phủ thời hạn 5 năm. Sau đó biến tương tác giữa rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất được tính bằng tích số giữa hai biến đo lường nêu trên [8]. Theo lý luận của Angbazo (1997), rủi ro lãi suất tăng làm tăng ảnh hưởng của rủi ro tín dụng lên NIM. Vì vậy, biến tương tác giữa rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất tỷ lệ thuận với NIM.
Một đóng góp quan trọng khác được thực hiện bởi Carbo và Rodriguez (2007). Các tác giả phát triển mô hình lý thuyết bằng cách bao gồm cả các hoạt động truyền thống và phi truyền thống của ngân hàng thương mại với mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của chuyên môn đối với NIM. Để làm được điều này, họ ước lượng một mô hình động, xem xét rằng các ngân hàng cần phải phù hợp hóa các chức năng cung cấp tiền gửi ngẫu nhiên và nhu cầu ngẫu nhiên của cho vay và các hoạt động phi truyền thống qua các giai đoạn. Kết quả của họ cho thấy sự đa dạng hóa các hoạt động phi truyền thống làm tăng sức mạnh thị trường và giảm tỷ lệ thu nhập lãi cận biên như một hệ quả các trợ cấp chéo.
Carbo và Rodriguez (2007) cũng khẳng định mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro tín dụng và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên [11]. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới. Saunders và Schumacher (2000) đã áp dụng mô hình lý thuyết của Ho và Saunders (1981) cũng như lý thuyết bổ sung của Allen (1988) cho hệ thống ngân hàng Mỹ và sáu nước châu Âu trong 1988 - 1995.
Brock và Rojas (2000) cũng đã áp dụng mô hình lý thuyết của Ho và Saunders (1981) cho năm quốc gia Mỹ Latinh (Argentina, Bolivia, Colombia, Chile và Peru). 11 Theo nghiên cứu của Saunders và Schumacher (2000), họ đề xuất phân tích các yếu tố quyết định của NIM bởi một quá trình gồm hai bước.