CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LỢI NHUẬN, KHẢ NĂNG SINH LỢI, CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1 Lợi nhuận, khả năng sinh lợi là gì, các biến phụ thuộc đại diện cho lợi nhuận 1.1 Định nghĩa lợi nhuận Trong định nghĩa của kinh tế học, lợi nhuận là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư vào đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Lợi nhuận, trong kế toán là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất. Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí. Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học.
Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0. Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán (Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Lợi nhuận của ngân hàng được đề cập đến trong bài nghiên cứu là lợi nhuận kế toán, là phần chênh lệch giữa doanh thu và tổng các chi phí bằng tiền mà ngân hàng bỏ ra. Lợi nhuận này được thể hiện trên báo kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm mà ngân hàng báo cáo.2 Khả năng sinh lợi Khả năng sinh lợi của ngân hàng được thể hiện bằng tỷ suất lợi nhuận mà ngân hàng đó đạt được.
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư (lợi nhuận) và phần tư bản ứng ra để sản suất kinh doanh. Thông thường tỷ suất lợi nhuận được tính hằng năm để so sánh hiệu quả hoạt động so với các năm trước đó. Tỷ suất lợi nhuận thường được dùng làm thước đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó. Khả năng sinh lợi trong bài nghiên cứu được đo lường bằng ba tỷ số sau: tỷ suất lợi 5 nhuận trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ thu nhập lãi thuần.3 Các biến phụ thuộc đại diện cho khả năng sinh lợi Trong bài nghiên cứu này, khả năng sinh lợi của một ngân hàng được đo lường bằng: tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA): Công thức tính: Đây là chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi so với tài sản.
ROA là một chỉ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp, nó cho biết khi đầu tư vào 1 đồng tài sản thì sẽ có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn tỷ số này nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.
Tuy nhiên hệ số này cao hay thấp ngoài việc phụ thuộc vào định hướng kinh doanh của doanh nghiệp nó còn bị ảnh hưởng bởi mùa vụ và ngành nghề kinh doanh, tình hình kinh tế và chính sách của chính phủ. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Công thức tính: ROE = ROE là tỷ số tài chính để đo mức lợi nhuận đạt được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu ngoài vốn của cổ đông dưới dạng cổ phần còn bao gồm cả lợi nhuận dành cho các quỹ như phát triển kinh doanh, chênh lệch phát hành.ROE là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư thường quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lợi nhuận của 1 đồng vốn bỏ ra để đầu tư vào công ty. Tỷ số này càng cao chứng tỏ công ty sử 6 dụng càng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, khả năng thu hồi vốn cao.
Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) Công thức tính: NIM = Để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng, người ta phân tài sản của ngân hàng thành các dạng: tài sản Có sinh lãi (như các khoản cho vay, các khoản đầu tư tài chính.), tài sản Nợ (huy động khách hàng, vay từ ngân hàng khác.) và tài sản thông thường (văn phòng, máy móc thiết bị. Thu nhập sản sinh ra từ các khoản tài sản Có sinh lãi được hoạch toán dưới khoản mục thu nhập lãi thuần. Tỷ lệ NIM càng cao là môt dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lý tài sản và nợ. Ngược lại, NIM càng thấp sẽ cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc tạo lợi nhuận.
NIM được tính bằng con số phần trăm.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi tại các Ngân hàng TMCP Việt Nam Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng có thể được chia thành các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.1 Các nhân tố bên trong: Nhân tố bên trong ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi ngành ngân hàng có thể được định nghĩa là là các nhân tố bị ảnh hưởng bởi các quyết định của các nhà quản lý ngân hàng. Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng các nhân tố ảnh hưởng bên trong chính là các quyết định về tài chính mà nhà quản trị ngân hàng đưa ra. Các quyết định tài chính này thể hiện thành các chỉ số tài chính trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQTA) 7 Công thức tính: EQTA = Tỷ số này phản ánh khả năng tài trợ từ vốn tự có của ngân hàng.
Tỷ số này cao chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của ngân hàng, nhưng cũng cho thấy ngân hàng đó chưa tận dụng được đòn bẩy tài chính. Theo nghiên cứu của Antonina Davydenko (2010) thì ngân hàng nào có vốn càng mạnh thì càng tạo ra nhiều lợi nhuận. Trong tình hình kinh tế có nhiều biến động như hiện nay thì một ngân hàng có vốn chủ sở hữu mạnh sẽ có nhiều khả năng đối phó với các cuộc khủng hoảng kinh tế và tạo sự yên tâm cho người gửi tiền khi nền kinh tế bất ổn. Giả thiết đặt ra là tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có tác động đến khả năng sinh lợi ngân hàng, và tác động này là cùng chiều.
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOTA) Công thức tính: LOTA = Trong hoạt động ngân hàng thì hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu nhập nhiều nhất, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập của ngân hàng. Đa số cho rằng chỉ số này có mối quan hệ cùng chiều với lợi nhuận thu được của ngân hàng. Nếu các vấn đề khác không đổi, khi toàn bộ nguồn tiền huy động được chuyển sang cho vay hết thì ngân hàng có thể sẽ đạt mức lợi nhuận cao hơn. Tuy nhiên, có thể xảy ra trường hợp là khi các ngân hàng cố gắng đẩy nhanh cho vay thì họ càng phải trả một chi phí cao hơn cho việc huy động vốn, và điều này có thể dẫn đến một tác động tiêu cực lên lợi nhuận (theo nghiên cứu của Antonina Davydenko (2010) và Adem Anbar (2011)).
Giả thiết đặt ra trong bài nghiên cứu là tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác động đến khả năng sinh lợi ngân hàng, và mối quan hệ này là cùng chiều. 8 Tỷ lệ huy động vốn trên tổng tài sản (DETA) Công thức tính: DETA = Nguồn vốn từ huy động được cho là nguồn vốn chính và rẻ nhất dành cho các ngân hàng. Chính vì vậy đa số đều cho rằng tiền gửi của khách hàng có tác động tích cực cùng chiều đến hoạt động ngân hàng, miễn là trên thị trường luôn có nhu cầu vay. Nếu ngân hàng huy động càng nhiều thì càng có khả năng đẩy mạnh cho vay.
Tuy nhiên, nếu nhu cầu vay không lớn trong khi ngân hàng huy động quá nhiều có thể làm giảm thu nhập của ngân hàng (theo nghiên cứu của Antonina Davydenko (2010)). Giả thiết đặt ra trong bài nghiên cứu là tỷ lệ huy động trên tổng tài sản có tác động đến khả năng sinh lợi ngân hàng, và mối quan hệ này là ngược chiều. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (PRTO): Công thức tính: PRTO = Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Chỉ số này cho biết bao nhiêu % dư nợ được trích lập dự phòng.
Đây là thước đo rủi ro vốn cũng như chất lượng tín dụng tại ngân hàng. Nếu ngân hàng hoạt động trong môi trường rủi ro tín dụng cao và thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý các khoản cho vay của họ thì chắc chắn ngân hàng đó PRTO cao (theo Anna P. Chỉ số này càng cao cho thấy chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng đang tiêu cực và khả năng thu hồi nợ thấp. Ngược lại nếu chỉ số này thấp chứng tỏ tình hình kinh doanh của ngân hàng là tốt, hầu hết các khoản 9 tín dụng đều có sinh lãi và có khả năng thu hồi, hoặc có thể do các khoản dự phòng chưa được trích lập đủ theo quy định.
Giả thiết đặt ra trong bài nghiên cứu là tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng và mối quan hệ này là ngược chiều. Tỷ lệ chi phí ngoài lãi (NETA): Công thức tính: NETA = Chi phí ngoài lãi của ngân hàng chính là chi phí quản lý, điều hành hoạt động của ngân hàng như: lương, phụ cấp, chi phí thuê nhà, marketing.Tác động của tỷ lệ này lên biến lợi nhuận là hỗn hợp. Một số thì cho rằng chúng có mối quan hệ ngược chiều, ngân hàng sẽ hoạt động hiệu quả hơn khi chi phí hoạt động thấp (theo Antonina Davydenko (2010)). Mặt số khác thì cho rằng ngân hàng có thể chuyển một phần chi phí hoạt động của họ sang nhựng người vay tiền và gửi tiền ở ngân hàng, do đó chúng có mối quan hệ cùng chiều (Aremu và Mukaila Ayanda (2013)).
Giả thiết đặt ra trong bài nghiên cứu là tỷ lệ chi phí ngoài lãi có tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng và mối quan hệ này là cùng chiều. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (NIGI) Công thức tính: NIGI = Thu nhập ngoài lãi của ngân hàng bao gồm các thu nhập từ phí dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại hối, hoạt động đầu tư.