Chương 1 giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu “Ứng dụng mô hình DEA đánh giá hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam”. Đề tài kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, mẫu là 15 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2008 -2016, không bao gồm các NHTMCP đã sáp nhập, hợp nhất. Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là ứng dụng mô hình DEA đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam, và kết hợp chỉ sỐ Malmquist đo lường thay đối năng suất nhân tố tổng hợp. Từ kết quả nghiên cứu, gợi ý một số giải pháp phù hợp cho nhà quản trị ngân hàng nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động cho các NHTMCP Việt Nam.
CHUONG 2: CO SO LY LUAN VE HIỆU QUA HOAT DONG CUA NGAN HANG THUONG MAI VA PHUONG PHAP PHAN TICH BAO DU LIEU DEA 2.1 Tổng quan hoạt động Ngân hàng thương mai Hệ thống ngân hàng cùng với sự phát triển của nền kinh tế và qua quá trình hội nhập, đến nay đã phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, đa dạng về loại hình sản phẩm, dịch vụ. Ngân hàng là tô chức tài chính quan trọng đối với nền kinh tế. Khái niệm về ngân hàng được xác định qua chức năng, vai trò thực hiện trong nên kinh tế. Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ngày 23/05/1990 quy định NHTM: là “ tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” Theo Điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 của Quốc hội ban hành ngày 12/12/1997, “ Ngân hàng là loại hình tô chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan ”, và “ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gởi và sử dụng tiền gởi để cấp tín dụng, cung ứng các dich vụ thanh toán ” Theo Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 16/06/2010, “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ” Như vậy, có thê thấy NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng của nền kinh tế, thực hiện viêc huy động vốn và sử dụng vốn này cung cấp cho nền kinh tế dưới hình thức cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ thanh toán, tài chính khác.
Hiện nay, hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm NHTMNN, NHTMCP, NH 100% vốn nước ngoài và NH liên doanh. Trong đó, theo Pháp lệnh Ngân hàng (1990), “ NHTMCP là NHTM được thành lập đưới hình thức công ty cô phần, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chức không được sở hữu số cô phần của ngân hàng quá tỷ lệ do NHNN quy định ”. Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM Theo Sandrine Kablan (2010), các hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng là huy động vốn, cho vay và đầu tư vào chứng khoán. Để thực hiện hoạt động này ngân hàng sử dụng lao động và vốn.
Hoạt động huy động vốn: NHTM hoạt động và phát triển chủ yếu nhờ vào nguồn vốn huy động từ nền kinh tế. Việc mở rộng các sản phâm tiền gửi tới các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư là vấn đề hàng đầu của các ngân hàng. Các NHTM huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, các giấy tờ có giá, nhận ủy thác. Tiền gửi của khách hàng là nguồn huy động quan trọng nhất của NHTM.
Ngân hàng mở các tài khoản tiền gửi để giữ tiền, tài sản và thanh toán hộ khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền từ tiền gửi của các doanh nghiệp, tô chức, tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của các ngân hàng khác. Bên cạnh nguồn tiền gửi, ngân hàng còn huy động vốn bằng cách đi vay từ NHNN, vay từ các TCTD và các NHTM khác. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để có được nguồn vốn huy động lớn đòi hỏi các NHTM phải có chính sách huy động hợp lý, rõ ràng và hiệu quả nhằm thu hút các cá nhân, tô chức gửi tiền vào ngân hàng. Hoạt động cho vay : Hoạt động cho vay là việc NHTM cho khách hàng vay một số tiền trong một thời gian nhất định, khi hết thời hạn vay, khách hàng phải hoàn trả đầy đủ gốc và lãi.
Thông qua hoạt động này, ngân hàng đây vốn vào nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn mở rộng sản xuất kinh doanh. NHTM thực hiện hoạt động cấp tín dụng qua các kênh chủ yếu sau: cho vay ngắn han, cho vay chiết khấu, cho vay thấu chỉ.(nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn ) và cho vay dai han, cho vay theo dự án, cho vay thuê mua, cho vay hợp vồn. Đối với các NHTMCP Việt Nam hiện nay thì hoạt động cho vay là hoạt động đem lại lợi nhuận chính nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng xảy ra trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của các khoản vay, hoặc khi khách hàng thanh toán gốc và lãi không đúng thời hạn.
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở việc cho vay mà còn bao gồm các hoạt động khác như hoạt động bảo lãnh, cho thuê tài chính. Rủi ro tín dụng đến từ nhiều phía, do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan từ môi trường kinh tế, xã hội, môi trường pháp lý, từ phía ngân hàng mở rộng tín dụng không đi đôi với việc quản lý chất lượng tín dụng, do không tuân thủ đúng quy trình cho vay, hoặc từ phía khách hàng.Đê hoạt động tín dụng an toàn, đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng cụ thể, đúng quy định, quy trình, song song với việc mở rộng tín dụng cần xem xét và kiểm soát chất lượng tín dụng. Hoạt động thanh toán Là trung gian tài chính, ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, các loại thẻ.thông qua tài khoản của khách hàng. Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và công nghệ thông tin, các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, nhất là thẻ thanh toán và thẻ tín dụng ngày càng phát triển mạnh.
Hiện nay, các NHTM bên cạnh việc củng cô các sản phẩm đang có, cần đây mạnh phát hành thẻ tin dụng liên kết với các công ty lớn đê thu hút nguồn khách hàng. Đây là hoạt động không sử dụng tiền mặt và không sử dụng đến nguồn vốn của ngân hàng. Thông qua hoạt động thanh toán giúp tiết kiệm chỉ phí cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản, cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Hoạt động đầu tư tài chính và hoạt động kinh doanh khác Các NHTM thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp như góp vốn vào doanh nghiệp, các công ty tài chính, các hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Bên cạnh hoạt động cấp tín dụng thì hoạt động đầu tư tài chính cũng mang lại lợi nhuận khá cao và phân tán rủi ro cho ngân hàng, nâng cao tính thanh khoản và đa dạng hóa mảng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngoài các hoạt động kinh doanh chính trên thì các NHTM cũng tập trung phát triển các gói sản phẩm, dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, giúp tăng lợi nhuận như dịch vụ bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, dịch vụ ủy thác, dịch vụ tư vấn, cho thuê két. Nhìn chung, các ngân hàng cần xây dựng danh mục đầu tư hợp lý và quản lý tài sản có hiệu quả nhằm tạo tính ôn định cao, đảm bảo khả năng thanh khoản. Cần xây dựng và dự báo nhu cầu rút tiền của khách hàng trong từng thời kỳ để chủ động nguồn vốn chỉ trả.
Hiệu quả hoạt động Ngân hàng thương mại Hiệu quả là thuật ngữ được dùng trong nhiều lĩnh vực. Trong kinh tế học, hiệu quả là thuật ngữ chỉ việc sử dụng các nguồn lực để tối đa hóa sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Theo Từ điển kinh tế học của Nguyễn Văn Ngọc ( 2012 ), “ Hiệu quả là mối quan hệ giữa đầu vào nhân tổ khan hiếm và số lượng hàng hóa và dịch vụ ” và “khái niệm hiệu quả còn được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá xem thị trường phân bổ nguồn lực tốt đến mức nào ”. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo lường tổng quát bằng tỷ lệ đầu ra trên đầu vào.
Các yếu tô đầu vào như là vốn, kỹ thuật, lao động .và các yếu tố đầu ra như sản phẩm, lợi nhuận. Ngân hàng là TCTC trung gian quan trọng trong việc huy động vốn và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Kết quả hoạt động của ngân hàng được xem là hiệu quả hoạt động, là lợi nhuận mà ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định. Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), hiệu quả hoạt động của NHTM được hiểu “ Là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra, hay khả năng sinh lời ; hoặc giảm thiểu chỉ phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác.
Là xác suất hoạt động an toàn của các ngân hàng ”. Sandrine Kablan (2010 ), hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả với nổ lực tối thiểu hóa nguồn lực đầu vào. Nó đo lường mức độ một đơn vị sản xuất đạt gần đường biên giới hạn khả năng sản xuất, trong đó đường biên giới hạn khả năng sản xuất là tập hợp các điểm tối ưu kết hợp đầu vào đề sản xuất đầu ra. Theo Farrell (1957), hiệu quả bao gồm hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật.
Hiệu quả phân bô là việc doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào dé sản xuất ra đầu ra ở mức chỉ phí thấp nhất.