CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ 1. Tổng quan về rủi ro trong thanh toán quốc tế: Thanh toán quốc tế (TTQT) là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống NH trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao ñổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau (PGS. Trầm Thị Xuân Hương, 2010, Thanh toán quốc tế, trang 115) TTQT là nghiệp vụ NH quốc tế ñược hình thành và phát triển trên nền tảng hoạt ñộng ngoại thương và các quan hệ trao ñổi quốc tế. Nghiệp vụ này ñòi hỏi phải có trình ñộ chuyên môn cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến, tạo sự kết nối hài hòa giữa NH trong nước với hệ thống NH trên thế giới.
Rủi ro trong TTQT là rủi ro phát sinh trong quá trình thanh toán giữa các bên trong giao dịch quốc tế (nhà NK, nhà XK, NH, các tổ chức cá nhân, trung gian có liên quan…). Rủi ro trong TTQT cũng tương tự như rủi ro thanh toán nội ñịa nhưng phức tạp và khó kiểm soát hơn do giao dịch quốc tế, các chủ thể ở cách xa nhau, cũng như sự khác biệt về văn hóa, phong tục tập quán, luật pháp giữa các quốc gia… làm tăng thêm các khó khăn liên quan ñến giao dịch thương mại quốc tế, trong ñó có TTQT (PGS. Nguyễn Văn Tiến, 2009, Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương). Trong quá trình hoạt ñộng của mình, TTQT không chỉ ñơn thuần mang lại lợi ích kinh tế mà còn phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro, tổn thất trực tiếp cho ñất nước, cho ngân hàng (NH), cho doanh nghiệp hoạt ñộng kinh doanh xuất nhập khẩu, nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia TTQT (nhà xuất khẩu, nhập khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian.) hoặc những nhân tố khách quan khác gây nên.
Rủi ro trong phương thức chuyển tiền: Phương thức chuyển tiền là phương thức ñơn giản, trong ñó người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau. NH chỉ là trung gian hưởng hoa hồng mà không bị ràng buộc bất kì trách nhiệm nào. Trong ngoại thương phương thức chuyển tiền chỉ áp dụng trong trường hợp các bên mua bán có uy tín và tin cậy lẫn nhau hoặc ñể thanh toán các chi phí liên quan ñến XNK như: bảo hiểm, vận chuyển, bưu ñiện… 1. Rủi ro ñối với nhà xuất khẩu: Rủi ro xảy ñến với nhà XK trong trường hợp nếu người mua thanh toán sau khi xuất hàng thì việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của nhà NK, nhà NK có thể sau khi nhận ñược hàng nhưng không tiến hành chuyển tiền, hoặc cố tình kéo dài thời hạn trả tiền ñể chiếm dụng vốn của nhà XK, quyền lợi của nhà XK không ñược ñảm bảo.
Rủi ro ñối với nhà nhập khẩu: Trong trường hợp chuyển tiền trước, sẽ rất bất lợi cho người mua nếu sau khi chuyển tiền xong, người bán bị phá sản hoặc giao hàng không ñúng số lượng, chủng loại, chất lượng kém hay không bảo ñảm thời gian giao hàng theo ñúng thỏa thuận làm ảnh hưởng ñến hoạt ñộng kinh doanh của mình. Vì thế nếu phải thanh toán theo phương thức này, nhà NK nên yêu cầu NH của nhà XK phát hành cho mình một thư bảo lãnh về số tiền ứng trước ñó, ñể tránh rủi ro mất tiền khi người bán không thực hiện những nghĩa vụ như ñã cam kết trong hợp ñồng ngoại thương. Rủi ro trong phương thức nhờ thu: Nhà XK sau khi hoàn thành nhiệm vụ xuất chuyển hàng hóa cho nhà NK thì ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở nhà nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra. Các thành phần chủ yếu tham gia phương thức thanh toán này gồm: nhà XK, NH phục vụ nhà XK, NH phục vụ nhà NK và nhà NK.
Phương thức nhờ thu ñược phân ra làm hai loại như sau: 123doc 3 - Nhờ thu trơn (clean collection): nhà XK sau khi xuất chuyển hàng hóa, lập các chứng từ hàng hóa gửi trực tiếp cho nhà NK (không thông qua ngân hàng), ñồng thời ủy thác cho NH phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra. Phương thức thanh toán này ít ñược sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế vì không ñảm bảo quyền lợi cho nhà XK. - Nhờ thu kèm chứng từ (documentary – collection): là phương thức trong ñó nhà XK ủy thác cho NH thu hộ tiền của nhà NK, căn cứ vào hối phiếu và bộ chứng từ hàng hóa, gửi kèm theo với ñiều kiện là nhà NK trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn, thì NH mới giao bộ chứng từ hàng hóa ñể ñi nhận hàng. Theo phương thức này, NH không chỉ là người thu hộ tiền mà còn là người khống chế bộ chứng từ hàng hóa.
Với cách khống chế này quyền lợi của nhà XK ñược ñảm bảo hơn. Rủi ro trong phương thức nhờ thu trơn: Do việc trả tiền trong phương thức nhờ thu trơn không căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa, mà chỉ dựa vào hối phiếu do nhà XK ký phát, do ñó rủi ro chủ yếu thuộc về nhà XK. Rủi ro ñối với nhà xuất khẩu: ðối với phương thức thanh toán bằng nhờ thu trơn không ñảm bảo quyền lợi cho bên bán. Người mua có thể nhận hàng mà không trả tiền hoặc trì hoãn việc trả tiền, những rủi ro này bao gồm: • Nếu nhà NK vỡ nợ, thì nhà XK không nhận ñược tiền thanh toán.
• Nếu năng lực tài chính của nhà NK kém, thì việc thanh toán sẽ chậm trễ và tốn kém. • Nếu nhà NK chủ tâm lừa ñảo, vẫn nhận hàng nhưng từ chối thanh toán hay từ chối ký chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn. • ðến hạn thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà nhà NK không thể thanh toán hoặc không muốn thanh toán (do tình hình tài chính, kinh doanh nhà NK trở nên xấu ñi, hay nhà NK phát sinh chủ tâm lừa ñảo) thì nhà XK có thể kiện ra tòa nhưng rất tốn kém và không phải lúc nào cũng nhận ñược tiền. Rủi ro ñối với nhà nhập khẩu: Rủi ro có thể phát sinh cho nhà NK khi hối phiếu ñòi tiền ñến trước và phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán, trong khi hàng hóa không ñược gửi ñi, hoặc ñã ñược gửi ñi nhưng chưa ñến, hoặc khi nhận hàng hóa có thể không ñảm bảo ñúng chất lượng, chủng loại và số lượng như ñã thỏa thuận trong hợp ñồng ngoại thương.
Rủi ro trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ: Trong phương thức này nhà xuất khẩu mất quyền kiểm soát hàng hóa và chưa ñược thanh toán cũng như không có bảo lãnh thanh toán ngay từ lúc gửi hàng ñi. Rủi ro thanh toán hoàn toàn thuộc về nhà XK khi nhà NK không trả tiền khi ñã nhận ñược hàng. NH chỉ ñóng vai trò trung gian ñơn thuần, thu ñược hay không NH cũng thu thủ tục phí, NH không chịu trách nhiệm nếu bên NK không thanh toán. Nên nếu là nhà XK chỉ nên sử dụng phương thức này khi có tín nhiệm hoàn toàn với nhà NK, hoặc có giá trị XK nhỏ, mang tính chất thăm dò thị trường hay hàng hóa bị ứ ñọng khó tiêu thụ… Phương thức nhờ thu kèm chứng từ thủ tục ñơn giản, và chi phí rẻ, nhưng mức ñộ rủi ro ñối với nhà NK và nhà XK cao hơn so với phương thức tín dụng chứng từ.
Rủi ro ñối với nhà xuất khẩu: ðối với phương thức thanh toán bằng nhờ thu kèm chứng từ, NH thu hộ tiền ñồng thời khống chế chứng từ hàng hóa ñối với người mua. Với cách khống chế theo bộ chứng từ này quyền lợi của bên bán ñược ñảm bảo hơn vì sự ràng buộc giữa việc thanh toán và nhận hàng của người mua. Tuy nhiên trong phương thức thanh toán này vẫn có thể xảy ra rủi ro ñối với người bán, bao gồm: • Người bán thông qua NH giữ hộ chứng từ hàng hóa mới chỉ ñảm bảo ñược quyền sở hữu hàng hóa của mình, chứ chưa khống chế ñược việc trả tiền của người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hàng hóa (không cần nhận hàng), không thanh toán khi giá cả trên thị trường biến ñộng dẫn ñến bất lợi cho người bán trong việc giải tỏa hàng hóa và gặp rủi ro trong tiêu thụ hàng hóa.
Dù nhà XK có thể kiện nhà NK theo hợp ñồng ñã ký, nhưng ñiều này mất nhiều thời gian, trong khi hàng 123doc 5 hóa có thể ñã bốc dỡ và lưu kho hoặc nhà XK ñã ra lệnh chuyên chở hàng về nước. • Bất kỳ chi phí phát sinh nào liên quan ñến nhờ thu mà nhà NK chịu (như ñã thỏa thuận) mà nhà NK từ chối thanh toán, NH xuất trình vẫn giao chứng từ cho nhà NK theo lệnh nhờ thu ñể ñược thanh toán và khấu trừ chi phí phát sinh, số tiền còn lại trả cho NH chuyển chứng từ ñể thanh toán cho nhà XK (theo URC522, ñiều 21a), ñiều này làm nhà XK mất một khoản chi phí không muốn. Rủi ro ñối với nhà nhập khẩu: Phương thức nhờ thu kèm chứng từ phần lớn rủi ro thuộc về nhà XK, tuy nhiên nhà NK vẫn ñứng trước rủi ro. Cho dù nhà NK có cơ hội kiểm chứng từ trước khi thanh toán hay chấp nhận thanh toán, nhưng hàng hóa có thể không ñược kiểm ñịnh, chưa ñược bảo hiểm ñầy ñủ, hay không tuân theo các tiêu chuẩn ghi trong hợp ñồng thương mại.
Nhà NK có thể ñứng trước rủi ro khi nhà XK lập bộ chứng từ giả, có sai sót, hay cố tình gian lận thương mại. Các NH không chịu trách nhiệm khi chứng từ giả mạo hay có sai sót, hoặc hàng hóa hay phương tiện vận tải không khớp với chứng từ. Rủi ro ñối với ngân hàng chuyển chứng từ: Nhìn chung, NH chuyển chứng từ chỉ chịu rủi ro khi ñã thanh toán hay ñã cho nhà XK vay trước khi nhận ñược tiền chuyển ñến NH xuất trình (chiết khấu chứng từ nhờ thu). Rủi ro ñối với ngân hàng xuất trình chứng từ: - Nếu NH xuất trình chuyển tiền cho NH chuyển chứng từ trước khi nhà NK thanh toán, thì phải chịu rủi ro nếu như nhà NK không nhận chứng từ và không thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán.
- Chịu trách nhiệm kiểm tra chứng từ nhận ñược xem có ñủ và phù hợp với danh mục liệt kê chứng từ gửi tới, nếu chứng từ không ñủ hoặc không phù hợp thì phải thông báo cho NH chuyển chứng từ ñể xin chỉ thị tiếp.