Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 4: Kiểm định các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 1. Ý nghĩa đề tài Ý nghĩa khoa học Đề tài không tạo ra lý thuyết mới mà chỉ tổng hợp khung lý thuyết về hiệu quả kinh doanh và tỷ suất sinh lợi của NHTM, là cơ sở để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của NHTM Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là cơ sở khoa học để các nhà quản trị và ban điều hành ngân hàng xác định được các yếu tố và mức độ tác động của từng yếu tố đến tỷ suất sinh lợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam, phát hiện những điểm bất cập trong hoạt động kinh doanh cũng như chính sách sử dụng các nguồn lực hiện có của chính ngân hàng để phát huy yếu tố nội tại. Từ đó có thể đưa ra những quyết định hợp lý mang tính hiệu quả giúp các NHTM nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường năng lực cạnh tranh và mở rộng thương hiệu.
123doc 6 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh 2. Ngân hàng thương mại Tại Hoa Kỳ, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi, chuyển tiền, thanh toán, cho vay, đầu tư, đổi tiền, mua bán ngoại hối và các dịch vụ khác liên quan đến tiền như bảo quản, ủy thác, làm đại lý trong nước và quốc tế.
Theo Trầm Thị Xuân Hương (2012), ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Với lịch sử hình thành lâu đời, mạng lưới ngân hàng thương mại đã hình thành khắp toàn cầu, được xem như là một kênh chu chuyển vốn quan trọng và cung ứng dịch vụ tài chính ngày càng đa dạng, phong phú và tác động đáng kể đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Theo Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng 2010 của Việt Nam, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng theo Luật này được hiểu là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ bao gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Như vậy, căn cứ những quan điểm khác nhau về khái niệm về ngân hàng thương mại và khung pháp lý điều chỉnh ở Việt Nam, có thể nói rằng ngân hàng thương mại là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận. 123doc 7 Ngân hàng thương mại có những điểm khác biệt so với những tổ chức kinh tế khác trong nền kinh tế. Những điểm khác biệt này thể hiện được vai trò quan trọng của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế. Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, có tính ảnh hưởng dây chuyền, lan truyền hệ thống. Mặt khác, lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng là lĩnh vực rất “nhạy cảm”, chứa đựng nhiều rủi ro khi có các biến động từ các yếu tố kinh tế như: thanh khoản, tỷ giá, lãi suất,…và năng lực quản trị của chính ngân hàng. Vì vậy cần đòi hỏi một sự thận trọng trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội. Là một doanh nghiệp, nhưng nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó vốn riêng của ngân hàng lại chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại phụ thuộc vào lòng tin và mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng do đó khi lòng tin của khách hàng giảm sút thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong huy động vốn và cung ứng các dịch vụ khác. Trong tổng tài sản của ngân hàng, tài sản hữu hình chiếm tỷ trọng rất thấp, mà chủ yếu là tài sản vô hình. Nó tồn tại dưới hình thức các tài sản tài chính, chẳng hạn như các loại kỳ phiếu, cổ phiếu, hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và các loại giấy tờ có giá trị khác. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước.
Một ngân hàng thương mại không thể mở rộng hoạt động kinh doanh khi ngân hàng nhà nước đang áp dụng chính sách đóng băng tiền tệ, hạn chế lạm phát và ngược lại. Do đó, việc ngân hàng mở rộng hay thu hẹp hoạt động kinh doanh của mình đều phải chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu 2. Hoạt động tạo lập nguồn vốn Vốn điều lệ và các quỹ Vốn điều lệ: là vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ khi thành lập ngân hàng.
Vốn điều lệ có thể thay đổi theo xu hướng tăng lên nhờ phát hành cổ phiếu bổ sung, hoặc kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật. Vốn điều lệ được sử dụng trước hết để xây dựng, mua sắm tài sản cố định, các phương tiện làm việc và quản lý, tức là tạo ra cơ sở vật chất ban đầu cho hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra, các NHTM được phép sử dụng vốn điều lệ để hùn vốn, liên doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật từng thời kỳ. Các quỹ của ngân hàng: các quỹ của ngân hàng được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động, bao gồm các quỹ được trích từ lãi ròng hàng năm của ngân hàng như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, các quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.
Ngoài ra, các quỹ còn được hình thành bằng cách trích và tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng như quỹ khấu hao cơ bản, sửa chữa tài sản, dự phòng để xử lý rủi ro… Vốn huy động Vốn huy động là một trong những nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM thông qua việc ngân hàng nhận ký thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn huy động bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng, tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức, đoàn thể; tiền gửi tiết kiệm của dân cư, nguồn vốn huy động qua phát hành các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi… 123doc 9 Nguồn vốn đi vay NHTM có thể vay của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn như chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, cầm cố, tái cầm cố các thương phiếu, vay lại các hợp đồng tín dụng, vay các NHTM khác trên thị trường liên ngân hàng, hợp đồng mua lại, vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế khác… 2. Hoạt động sử dụng vốn Với nguồn vốn có được, ngân hàng có thể sử dụng cho các hoạt động sau Thiết lập dự trữ Các NHTM không sử dụng toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh mà phải dành một phần dự trữ để đáp ứng các yêu cầu về duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN, thực hiện các lệnh rút tiền và thanh toán các lệnh chuyển khoản của khách hàng, chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi, đáp ứng các nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách hàng. Dự trữ của ngân hàng có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi tại các ngân hàng khác và các chứng khoán có tính thanh khoản cao.
Cấp tín dụng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. 123doc 10 Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung dài hạn trong đó bên cho thuê chuyển giao cho bên thuê quyền sử dụng tài sản cho thuê trong một thời gian xác định. Trong thời gian sử dụng tài sản, bên thuê phải trả tiền cho bên cho thuê.
Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê được quyền mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê tài sản hoặc trả lại cho bên cho thuê. Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.