Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động ngân hàng và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam Chương 4: Kết quả và thảo luận nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Kết luận và kiến nghị z 6 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Từ cái nhìn tổng quan về thực trạng nền kinh tế Việt Nam và các công trình nghiên cứu khoa học mang tính chất định tính của các nghiên cứu sinh Việt Nam trước đây, tác giả nhận thấy rằng việc tìm ra nguyên nhân làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngành ngân hàng Việt Nam hiện nay là rất cấp thiết. Tác giả quyết định chọn con đường thực nghiệm, bằng cách sử dụng phần mềm thống kê tiên tiến để phân tích định lượng, kết quả mô hình sẽ được so sánh với các mô hình trước đây, nhằm phát hiện các nhân tố nào tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng và loại bỏ các nhân tố nào không có sức ảnh hưởng đến ngành ngân hàng Việt Nam. Từ đó, đề ra hướng giải pháp hợp lý. Chương 2 sẽ đề cập đến những cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động ngân hàng và cũng là nền tảng cho những phương pháp luận tiếp theo.
z 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm về hiệu quả hoạt động của ngân hàng Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh mang lại. Hiệu quả hoạt động kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu quả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh, có vai trò, chức năng đặc biệt trong nền kinh tế.
Kết quả hoạt động của ngân hàng có thể được đo lường, đánh giá trên những góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh doanh của ngân hàng, đó chính là hiệu quả hoạt động. Hiệu quả hoạt động ngân hàng có thể được xem là kết quả về lợi nhuận do hoạt động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định. Phân tích hiệu quả hoạt động của NHTM chính là phân tích năng lực tài chính, năng lực điều hành, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh và phát hiện những sai lệch so với kế hoạch, xác định nguyên nhân và đề ra biện pháp xử lý kịp thời, đúng lúc nhằm đảm bảo hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của NHTM để đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa.
Ngoài ra, việc phân tích hiệu quả hoạt động là căn cứ xác thực, quan trọng cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển kinh doanh của ngân hàng. Từ đó, nhà quản trị sẽ hoạch định và đưa ra các quyết định chiến lược kinh doanh có hiệu quả hơn. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Các nhà nghiên cứu thường thông qua các hệ số chỉ tiêu tài chính để phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM. Đây là phương pháp phân tích đơn giản, các số liệu tính toán sẵn có dựa trên các báo cáo tài chính của các NHTM đã được kiểm toán và công bố công khai.
Thông qua các chỉ số tài chính, nhà quản trị có cái nhìn trực quan về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, có thể phân tích và so sánh tình hình tài chính giữa các NHTM. Yêu cầu đặt ra là việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sao cho phù hợp, phản ánh đúng bản chất về năng lực tài chính của các NHTM. Trong bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời (ROA và ROE) làm tiền đề cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM. Lợi nhuận/tổng tài sản (ROA) và Lợi nhuận/vốn chủ sở hữu (ROE) là hai chỉ tiêu tài chính được dùng trong đánh giá hiệu suất sinh lời phổ biến nhất của hoạt động ngân hàng (Judijanto và Khmaladze, 2003).
Khả năng sinh lời của tài sản Khả năng sinh lời của tài sản (ROA – Returns On Assets) phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ở doanh nghiệp, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản. Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản càng lớn và ngược lại. Ngoài ra, ROA còn là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính nhằm ra quyết định huy động vốn.
Công thức tính: ROA = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản 2. Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE - Returns On Equity) là chỉ tiêu rất được các nhà đầu tư và cổ đông quan tâm. Khi xem xét ROE, các nhà quản trị biết được một đơn vị vốn sở hữu đầu tư vào kinh doanh mang lại mấy đơn vị lợi z 9 nhuận. ROE vừa liên quan đến chi phí lãi vay, vừa liên quan đến chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó nó được xem là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính.
Trị số của ROE càng cao thể hiện việc sử dụng vốn của ngân hàng trong đầu tư, cho vay càng hiệu quả và ngược lại. Công thức tính: ROE = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu ROA, ROE càng cao càng tốt, tuy nhiên lãi quá cao không phải là tín hiệu tốt đối với các ngân hàng vì trong tình huống đó, ngân hàng đang rơi vào tình trạng rủi ro cao do lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro có mối quan hệ thuận chiều. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 2. Các nhân tố bên ngoài Môi trƣờng kinh tế Đối với ngành ngân hàng, hoạt động kinh doanh trong từng thời kỳ luôn chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi môi trường kinh tế.
Đây là nhân tố bên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh mà các ngân hàng không chủ động kiểm soát được. Thông qua các nhân tố như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế; lạm phát và tốc độ tăng trưởng GDP,. cho thấy được nền kinh tế đang tăng trưởng, phát triển hay suy thoái. Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng và đe dọa khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng đến chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Do vậy, hoạt động ngân hàng luôn lệ thuộc nhiều vào các hoạt động kinh tế chung của nền kinh tế xã hội. Các nhân tố bên trong Đề cập đến nhóm nhân tố vi mô tức là bàn về các nhân tố bên trong nội tại của NHTM. Bao gồm các nhóm nhân tố: z 10 Nhóm nhân tố phản ánh quy mô ngân hàng Quy mô của NHTM thường được biểu hiện qua vốn chủ sở hữu và tổng tài sản. Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn riêng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình kinh doanh.
Vốn chủ sở hữu là nguồn lực cơ bản chứng minh sức mạnh tài chính của NHTM, đóng vai trò quan trọng vừa đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn, vừa quyết định quy mô hoạt động và chiến lược đầu tư. Nhiều chỉ tiêu hoạt động của NHTM bị ràng buộc với vốn chủ sở hữu như: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản để đo lường mức độ an toàn vốn; Tỷ lệ tiền gửi/Tổng tài sản phản ánh nguồn vốn từ việc huy động tiền gửi của khách hàng,. Do vậy, việc duy trì mức vốn chủ sở hữu tối thiểu luôn được các cơ quan chức năng kiểm soát ngân hàng quan tâm. Tổng tài sản là những tài sản vật chất cụ thể tồn tại dưới những hình thức khác nhau như tiền mặt tại két ngân hàng, tiền đang thu, chứng khoán các loại, cho vay các loại và các trang thiết bị cơ sở vật chất của ngân hàng.
Đánh giá quy mô chất lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ tiêu: Tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản, tính đa dạng hoá trong tài sản, tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng của dư nợ, tỷ lệ dư nợ cho vay/Tổng tài sản, tỷ lệ nợ quá hạn, … Để đảm bảo an toàn hoạt động, một NHTM phải cân đối giữa giá trị của tài sản có với giá trị tài sản nợ để tránh mất khả năng thanh toán dẫn đến nguy cơ phá sản. Như vậy, quy mô và hoạt động của ngân hàng có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau. Một mặt quy mô quyết định đến tầm vóc và thể loại hoạt động của ngân hàng. Mặt khác, các hoạt động của ngân hàng cũng tác động đến quy mô của ngân hàng.
Nhóm nhân tố phản ánh thu nhập và chi phí NHTM là tổ chức tài chính hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận các ngân hàng thường có xu hướng cắt giảm chi phí (tiêu biểu là chi phí hoạt động) và tăng thu nhập. z 11 Trong hoạt động truyền thống, thu nhập lãi từ hoạt động cho vay và huy động từ tiền gửi của khách hàng luôn là nguồn thu nhập chính mà các NHTM đặc biệt quan tâm, được đo lường thông qua chỉ tiêu: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần/Tổng tài sản. Bên cạnh đó, nguồn thu từ hoạt động ngoài lãi do thu từ dịch vụ, các kênh đầu tư sinh lời khác cũng mang lại lợi nhuận đáng kể cho các ngân hàng, và đây cũng là nhân tố đa dạng hóa thu nhập được tính bằng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi/Tổng thu nhập hoặc tỷ lệ thu nhập ngoài lãi/Tổng tài sản. Các tỷ lệ này càng cao cho thấy ngân hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận.