Chương 1. Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra ban đầu, từ đó chỉ ra được ý nghĩa và đóng góp của đề tài cho hệ thống ngân hàng nói riêng và toàn thê nền kinh tế nói chung. Cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm và mô hình nghiên cứu Trong chương 2, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về lợi nhuận ngân hàng, các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận và các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận. Từ đó, đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về vấn đề tăng trưởng lợi nhuận của ngân hàng thông qua một vài nghiên cứu trước.
Ngoài ra, trong chương này tác giả còn đưa ra mô hình nghiên cứu tổng quát của luận văn Chương 3. Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu Từ những cơ sở lý thuyết, căn cứ vào mô hình nghiên cứu đã nêu ở chương 2, tác giả chỉ ra cơ sở dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phù hợp sẽ được sử dụng. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này, tác giả trình bày sơ lược về tình hình lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009-2018. Đồng thời, tác giả cũng tiến hành phân tích, kiểm định mô hình hồi quy để đưa ra kết luận cuối cùng về ảnh hưởng của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam.
Kết luận và khuyến nghị Chương này tóm tắt lại kết quả nghiên cứu từ chương 4. Đồng thời từ kết quả nghiên cứu xác định được, đưa ra những gợi ý, kiến nghị nhằm đảm bảo góp phần tăng trưởng lợi nhuận ôn định, bền vững và an toàn. Ngoài ra, chương này còn nêu lên những hạn chế của đề tài nghiên cứu và hướng nghiên cứu mở rộng sau này. CO SO LY THUYET Chương 2 nhằm mục đích cung cấp những kiến thức quan trọng về ngân hàng thương mại và những nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng.
Chương này được chia thành bốn phần chính. Phần đầu xem xét các khái niệm về ngân hàng thương mại gồm định nghĩa lợi nhuận và các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận của ngân hàng. Phần tiếp theo là xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng. Tiếp theo là khái quát các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận NHTMCP Việt Nam.
Và cuối cùng là đưa ra mô hình nghiên cứu tổng quát về các yếu tô ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam. Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về lợi nhuận của ngân hàng thương mại Lợi nhuận có vai trò quan trọng tới sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Đây chính là động lực thôi thúc doanh nghiệp năng động hơn nữa để khẳng định mình trong môi trường cạnh tranh gay gắt.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường, điều đầu tiên mà họ quan tâm đó là lợi nhuận. Đây là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả của quá trình kinh doanh, là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Vì vậy, lợi nhuận là yếu tố rất quan trọng và quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Về bản chất, NHTM cũng đơn giản chỉ là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp với mức rủi ro có thé chấp nhận được.
Những nhà kinh tế trong các phân tích của họ về doanh nghiệp đều lay việc tối đa hóa lợi nhuận làm mục đích cuối cùng, tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận: Theo Karl Marx: “Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi sau khi trừ đi những chi phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với các thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng. Rose (2003) “ Chênh lệch giữa tất cả các khoản thu nhập và chỉ phí là lợi nhuận của ngân hàng.” Thu nhập của NHTM bao gồm phần thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Chi phí của NHTM bao gồm chỉ phí trả lãi và chi phi ngoài lãi. Như vậy có thể khái quát lại lợi nhuận của NHTM là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của NHTM.
Hay cụ thể hơn lợi nhuận của NHTM là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí từ các hoạt động của NHTM mang lại. Các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận của ngân hàng thương mại Về mặt lý thuyết, giá trị thị trường hay giá trị cổ phiếu là chỉ số tốt nhất phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng bởi vì nó thể hiện sự đánh giá của thị trường đối với ngân hàng đó. Tuy nhiên chỉ số này thường không đáng tin bởi vì hầu hết cô phiếu của ngân hàng, đặc biệt cô phiếu của các ngân hàng nhỏ không được giao dịch tích cực trên thị trường vì vậy buộc các nhà đầu tư phải sử dụng các tỷ lệ về lợi nhuận của ngân hàng để thay thế cho chỉ số giá trị thị trường. Dưới đây là một số chỉ tiêu nhằm đánh giá lợi nhuận của NHTM.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return On Assets - ROA): là thước đo thông dụng nhất về khả năng sinh lời thé hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cho biết cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh đoanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là chỉ tiêu được sử dụng phô biến trong các bài nghiên cứu đo lường lợi nhuận của các ngân hàng. ROA lớn có nghĩa là hoạt động đầu tư, khai thác tài sản của ngân hàng đang được thực hiện một cách hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao. Ngược lại tỷ lệ ROA thấp cho thấy kết quả đầu tư không mang lại lợi nhuận như mong đợi.
Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp ROA cao đều là tốt, bởi vì lợi nhuận luôn đi kèm với rủi ro, điều đó có thể do ngân hàng đang sở hữu danh mục đầu tư mạo hiểm có tỷ suất sinh lợi cao nhưng cũng tiềm ân nhiều rủi ro. ROA được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, công thức tính như sau: 10 Lợi nhuận sau thuế ROAE= __ SSS Tông tài sản bình quân Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity - ROE): đo lường tỉ lệ thu nhập cho các cổ đông ngân hàng, nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. ROE cho biết một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, biểu thị khoản sinh lời của các nhà đầu tư nhận được từ vốn cổ phần tại ngân hàng. Tương tự như ROA, ROE càng lớn thì lợi nhuận đem lại cho các cổ đông càng cao, cô phiếu của ngân hàng càng hấp dẫn các nhà đầu tư.
Phân tích ROE sẽ giúp cho các ngân hàng nhận biết những điểm mạnh cũng như điểm yếu trong hoạt động ngân hàng nói chung và khả năng sinh lời của ngân hàng nói riêng. Chỉ số này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng sau thuế chia cho tổng giá trị vốn chủ sở hữu bình quân, công thức tính như sau: Lợi nhuận sau thuế ROE = ———————— Vôn chủ sở hữu bình quân Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net interest margin- NIM): duoc dinh nghia 1a chênh lệch giữa thu nhập lãi và chỉ phí lãi chia cho tổng tài sản sinh lời. Biên độ được tính cho một khoảng thời gian, một quý hoặc một năm và được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm. Đối với nhà quản trị ngân hàng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là thước đo về tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh truyền thống, đánh giá tính hợp lý giữa thu nhập và chi phí phải trả.
NIM đo lường mức chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi thông qua hoạt động kiêm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuôi các nguồn vốn có chỉ phí thấp nhất, do đó NIM càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao. Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thê kiểm soát tài sản sinh lời và đánh giá nguồn vốn nào có chỉ phí thấp nhất. Chỉ số này theo Peter S. Rose (2004) được tính như sau: 11 NIM Thu nhập lãi — Chi phí lãi Thu nhập lãi thuần _ Tông tài sản có sinh lời _ Tông tài sản có sinh lời Trong đó: + Thu nhập lãi là tổng thu lãi từ các khoản cho vay và đầu tư tài chính trong kỳ tính toán.
+ Chỉ phí lãi là lãi phải trả cho các khoản huy động vốn và nợ khác. + Tổng tài sản sinh lời bao gồm tiền gửi tại NHNN, tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng, các công cụ tài chính khác, cho vay khách hàng và chứng khoán đầu tư. Mỗi một chỉ số sẽ phản ánh khả năng sinh lời ở các góc độ tiếp cận khác nhau. ROE là chỉ số được các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu bởi nó phản ánh khả năng tạo ra giá trị tăng thêm cho họ trong một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính vì lý do đó mà ROE là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả khi nghiên cứu về khả năng sinh lời. Nhưng ROE không đi một mình mà thường được nghiên cứu cùng với chỉ số ROA bởi ROA là chỉ số phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế, là thước đo khả năng của nhà quản trị trong việc dùng các nguồn tài chính và đầu tư dé sinh lời. Vì các chỉ số như ROA và ROE là những chỉ báo hiệu quả cho kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phản ánh giá trị lợi nhuận mà doanh nghiệp đã đạt được trong các kỳ kế toán đã qua, không đưa ra một góc nhìn dài hạn cho cổ đông và lãnh đạo doanh nghiệp. Theo quan điểm cá nhân, tác giả nhận thấy việc sử dụng NIM để phản ánh khả năng sinh lời là một hướng tiếp cận có thê khai thác ở nhiều góc độ.