Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và một số hàm ý rút ra.
4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý luận về khả năng sinh lời của các ngân hàng 2. Khái niệm khả năng sinh lời Luật Các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010, định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.Rose (2002) thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Trong đó khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần và thu hút vốn đầu tư.
Với Har ard và Upton (1961) phát biểu rằng : “Khả năng sinh lời là khả năng của một sự đầu tư nhất định có thể tạo ra lợi nhuận”. Ngoài ra quan điểm Eho (2012) cho rằng khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện.
Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản. Theo Hassan (2003), chỉ số tài chính thường cung cấp một hiểu biết rộng hơn về tình hình tài chính vì chúng được xây dựng từ những dữ liệu kế toán trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng. Một số chỉ số tài chính thể hiện khả năng sinh lời của ngân hàng thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây như: ROA–khả năng sinh lời trên tổng tài sản, ROE–khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu, NIM – Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, EPS – Tỷ suất lợi nhuận trên cổ phần, … 5 Tóm lại, khả năng sinh lời là khái niệm phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp và thể hiện được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Ý nghĩa khả năng sinh lời Việc phân tích khả năng sinh lời với mục đích đánh giá tổng quan khả năng sinh lời của ngân hàng để đưa ra các nhận xét, bình luận, đánh giá, hàm ý quản trị nhằm khắc phục về các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời.
Từ đó có nguồn thông tin tin cậy để đo lường về hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời.Rose (2002) cho rằng khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của các NHTM thường được đo lường thông qua 2 chỉ tiêu cơ bản là ROA và ROE. Trong đó, ROE bị tác động bởi 2 yếu tố là ROA và hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính. Điều này cho thấy thu nhập của một ngân hàng rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản với việc sử dụng nhiều nợ hơn hay nhiều vốn chủ sở hữu hơn.
Nói cách khác, trên thực tế, mối quan hệ giữa ROE và ROA phản ánh sự đánh đổi cơ bản giữa rủi ro và thu nhập mà các nhà quản trị ngân hàng phải lựa chọn. Tuy nhiên ROE vẫn có một nhược điểm lớn đó chính là chịu ảnh hưởng từ đòn bẩy tài chính và tác động của các quy định về đòn bẩy tài chính. Điều này làm cho những ngân hàng nào có xu hướng vay nợ cao hơn thì thường có tỷ suất sinh lợi cao hơn các ngân hàng sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu. Dưa vào những lý thuyết về khả năng sinh lời và những nghiên cứu dựa trên công trình của Dr.
Aremu, Mukaila Ayanda (2013) nêu trên, luận văn lựa chọn các biến đo lường cho phù hợp với thực trạng đặc điểm kinh doanh của hệ thống NHTM Việt Nam, cụ thể là Lợi nhuận trên tài sản (ROA) và Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), ngoài ra các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Việt Nam thể hiện chủ yếu qua nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ sử dụng vốn, trong khi NIM được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi trên tổng tài sản có sinh lời bình quân.nên luận văn sử dụng NIM để đánh giá khả năng sinh lời là phù hợp với tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng chuyển thành thu nhập ròng (Trần Huy Hoàng 2011). ROA là chỉ số thể hiện tương quan giữa lợi nhuận được tạo ra của một doanh nghiệp so với tài sản của của doanh nghiệp đó. Chỉ số này cho biết tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm. Công thức tính ROA như sau: ROA = Lãi ròng (Lợi nhuận thuần, lợi nhuận ròng, lợi nhuận sau thuế) / Tổng tài sản. ROA cho thấy lợi nhuận thu được trên mỗi đồng tài sản và phản ánh khả năng quản lý hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong việc sử dụng các nguồn lực của ngân hàng hiệu quả để tạo ra lợi nhuận.
Như vậy, một tỷ lệ ROA cao có nghĩa là khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng vào thu nhập lớn với một hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt hơn. Tỷ lệ ROA cao là một chỉ báo rõ ràng về hiệu suất hoặc lợi nhuận tốt của một tổ chức ngân hàng (Bentum 2012). Rivard và Thomas (1997) đã sử dụng mẫu của 218 ngân hàng thương mại cho rằng ROA là tỷ số tốt nhất đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng vì ROA không chỉ là chỉ số đánh giá khả năng của quản lý hoạt động ngân hàng nhằm tạo ra lợi nhuận trên danh mục đầu tư của các tài sản mà còn không bị bóp méo bởi vốn chủ sở hữu cao do đòn bẩy tài chính tạo nên. Các ngân hàng có cùng qui mô tài sản, ngân hàng nào có ROA cao chứng tỏ ngân hàng đó có chính sách kinh doanh và đầu tư hiệu quả.
Chỉ số này có thể tính toán với nhiều số đo lợi nhuận, chẳng hạn lợi nhuận trước và sau dự phòng, lợi nhuận trước và sau thuế và các khoản khác thường (Nguyễn Thị Cành, 2009). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Cũng như các doanh nghiệp khác, ngân hàng phải có các khoản tài sản để đưa vào hoạt động kinh doanh và tạo ra lợi nhuận. Để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân 7 hàng, người ta phân loại tài sản thành các dạng: tài sản có sinh lãi (như các khoản cho vay, khoản đầu tư tài chính…), tài sản nợ (Huy động khách hàng, Vay từ các ngân hàng khác…) và tài sản thông thường (ví dụ như tài sản cố định là văn phòng, máy móc thiết bị…). Thu nhập sinh ra từ các khoản tài sản có sinh lãi được hạch toán dưới khoản mục thu nhập lãi thuần (và các khoản tương tự).
NIM là chênh lệch giữa lãi thu được của khoản đầu tư và lãi phải trả cho các khoản vay. Với ngân hàng thì nó là phần lãi (tính ra phần trăm) thu được từ các khoản cho vay trừ đi lãi phải trả của các khoản tiền gửi tại ngân hàng đó. NIM là thu nhập có được từ hoạt động có chênh lệch lãi suất. Để đo lường hiệu quả tạo lợi nhuận của các tài sản có sinh lãi của ngân hàng, tỷ lệ NIM được tính như sau: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) = Thu nhập lãi - Chi phí lãi.
Trong đó, tổng tài sản có sinh lời bình quân được xác định bằng tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng, chứng khoán đầu tư, các khoản cho vay khách hàng và tổ chức tín dụng khác. Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lý tài sản và nợ. Ngược lại, NIM thấp sẽ cho thấy ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lợi nhuận. Theo như đánh giá của Standard & Poor thì tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao, NIM có xu hướng cao ở các ngân hàng bán lẻ với quy mô nhỏ so với các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay các tổ chức cho vay cầm cố (Allen và Gale, 1995).
NIM giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn có chi phí thấp nhất. NIM đo lường mức chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất, do đó NIM càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao. Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và đánh giá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất. NIM được sử dụng làm biến phụ thuộc để phân tích các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng trong các nghiên cứu của Muyambonera (2013), 8 Serish Gul, Faiza Irshad và Khalid Zaman (2011), Liu và Wilson (2009).Tuy nhiên, NIM không tính xét đến những thu nhập ngoài lãi và chi phí hoạt động khác nên không phản ánh được toàn diện khả năng sinh lời của toàn ngành ngân hàng (Naceur và Goaied, 2008).
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại 2. Quy mô tổng tài sản Hầu hết trong các nghiên cứu về khả năng sinh lời, quy mô ngân hàng là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.