Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành dệt may giữ vai trò là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, chiếm xấp xỉ 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước vào năm 2017 với sự tham gia của khoảng 6.000 doanh nghiệp. Trong cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2017, hàng dệt may Việt Nam phân bổ mạnh sang Hoa Kỳ (48%), 28 quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (18%), Nhật Bản (12%), Trung Quốc (12%) và Hàn Quốc (khoảng 10%). Mặc dù giải quyết được lượng lớn việc làm nhờ lợi thế chi phí nhân công, ngành dệt may trong nước phải đối mặt với áp lực gia tăng chi phí đầu vào, điều chỉnh lương tối thiểu và sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trong khu vực. Dữ liệu từ Viện Năng suất Việt Nam cho thấy năng suất lao động (NSLĐ) ngành dệt may bình quân chỉ đạt 76 triệu đồng/người/năm trong giai đoạn 2011 – 2015 với tốc độ tăng trưởng 0,4%/năm, thấp hơn đáng kể so với các ngành công nghiệp nặng và chỉ bằng 50% của Trung Quốc, 70% của Philippines.

Công ty Cổ phần Đầu tư Dệt May Thiên An Thịnh hoạt động tại Khu Công nghiệp Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, chuyên sản xuất các chủng loại sợi 100% cotton và sợi pha (T/C, CVC) có chỉ số từ Ne 20 đến Ne 45 phục vụ dệt kim và dệt thoi. Doanh nghiệp cung ứng cho thị trường nội địa (20% – 25%) và xuất khẩu (75% – 80%) sang Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Bồ Đào Nha, Ấn Độ theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001 và các phương pháp thử nghiệm châu Âu (EN). Với tính chất sản xuất theo dây chuyền liên tục 7 kíp máy, việc xác định rõ các nhân tố tác động đến năng suất của lực lượng công nhân sản xuất trực tiếp (CNSXTT) là cơ sở thiết yếu để ổn định sản lượng khoảng 550 tấn sợi/ngày, cắt giảm lãng phí và gia tăng năng lực cạnh tranh.

Khóa luận xác lập hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về năng suất lao động của công nhân sản xuất trực tiếp trong các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là phân ngành dệt may.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng kết quả sản xuất kinh doanh, nguồn nhân lực và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của CNSXTT tại Công ty Cổ phần Đầu tư Dệt May Thiên An Thịnh giai đoạn 2015 – 2017.
  3. Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động của đội ngũ CNSXTT tại công ty trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến năng suất lao động của CNSXTT, với đối tượng khảo sát là công nhân trực tiếp tham gia sản xuất sợi tại Công ty Cổ phần Đầu tư Dệt May Thiên An Thịnh. Về phạm vi không gian, nghiên cứu thực hiện tại nhà máy của công ty tại Khu Công nghiệp Phú Bài, tỉnh Thừa Thiên Huế. Về thời gian, dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2015 – 2017; quá trình điều tra sơ cấp và hoàn thành khóa luận diễn ra từ ngày 02/01/2018 đến ngày 25/04/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các quan điểm kinh tế học về năng suất và sức lao động. Khái niệm năng suất được tiếp cận từ góc độ cổ điển của Adam Smith (tỷ số giữa đầu ra và các yếu tố đầu vào) đến quan niệm hiện đại của Hội đồng Năng suất Châu Âu (Rome, 1959), coi năng suất là một trạng thái tư duy cải tiến liên tục và thích ứng với biến động kinh tế. Dựa trên học thuyết của C. Mác, khóa luận phân tích bản chất của sức lao động – nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị thặng dư – và mối quan hệ biện chứng giữa NSLĐ cá nhân (sản lượng trên một giờ làm việc của từng công nhân) với NSLĐ xã hội (gắn liền với việc tiết kiệm cả lao động sống lẫn lao động quá khứ).

Để đo lường NSLĐ trong doanh nghiệp, đề tài áp dụng các chỉ tiêu tính toán căn cứ theo Giáo trình Thống kê doanh nghiệp (Hoàng Hữu Hòa, 2008, Trường Đại học Kinh tế Huế):

  • NSLĐ tính bằng hiện vật ($W = Q/T$): đo lường khối lượng sản phẩm hiện vật sản xuất trên một đơn vị thời gian hoặc trên một lao động.
  • NSLĐ tính bằng giá trị ($W = Q/T$): phản ánh tổng giá trị sản lượng hoặc doanh thu tạo ra trên tổng lao động hao phí.
  • NSLĐ tính bằng thời gian lao động ($t = T/Q$): biểu thị lượng thời gian hao phí để chế tạo một đơn vị sản phẩm.

Về mô hình các nhân tố ảnh hưởng, tác giả tổng hợp luận điểm của V.I. Lênin, giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (Phạm Văn Sinh và Phạm Quang Phan), tài liệu của Đại học Kinh tế Quốc dân và kế thừa mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2013) tại Công ty CPĐT Dệt May Phú Hòa An. Mô hình đánh giá gồm 5 nhóm nhân tố: (1) Sự quản lý và phân công lao động của cấp trên; (2) Hiệu quả của tư liệu sản xuất; (3) Bản thân công nhân trực tiếp tham gia sản xuất; (4) Điều kiện làm việc; (5) Khoa học – Công nghệ.

Về phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Hồ sơ pháp lý, báo cáo tài chính, báo cáo nhân sự và định mức kỹ thuật giai đoạn 2015 – 2017 được cung cấp nội bộ từ Phòng Kế toán, Phòng Tổ chức – Lao động – Tiền lương, Phòng Kinh doanh – Điều độ của Công ty Thiên An Thịnh; kết hợp dữ liệu thống kê từ Vinatex, Hiệp hội Dệt may, Viện Năng suất Việt Nam và Euromonitor.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Cỡ mẫu lý thuyết xác định theo công thức ước lượng tỷ lệ:

$$n = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \times p \times (1-p)}{e^2}$$

Với giả định tỷ lệ ước tính $p = 0{,}5$, sai số cho phép $e = 0{,}05$, độ tin cậy 95% ($Z = 1{,}96$), quy mô mẫu tính toán là 384 đối tượng. Do giới hạn về thời gian nghiên cứu thực địa, tác giả lựa chọn quy mô mẫu thực tế là 150 công nhân sản xuất trực tiếp. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được thực hiện trên 7 kíp máy của nhà máy sợi, phân bổ khoảng 21 công nhân trên mỗi kíp. Phiếu điều tra được phát trực tiếp trong giờ nghỉ giải lao sau bữa ăn để đảm bảo tiến độ ca kíp, thu về 150 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 100%).

  • Xử lý số liệu: Nhập liệu, làm sạch và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel cùng IBM SPSS 22. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả (Descriptives) để phân tích cơ cấu mẫu và áp dụng kiểm định giá trị trung bình One-Sample T-Test ở độ tin cậy 95% nhằm xác định mức độ ý nghĩa thống kê của các biến quan sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của nâng cao năng suất lao động

Chương này tập trung trình bày các nền tảng lý luận về năng suất, chỉ tiêu thống kê đo lường NSLĐ và kinh nghiệm thực tiễn quốc tế lẫn trong nước đối với ngành dệt may:

  • Phân tích chi tiết ba phương pháp tính NSLĐ (theo hiện vật, giá trị, thời gian lao động) kèm ưu và nhược điểm của từng chỉ tiêu đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
  • Làm rõ bản chất 5 nhóm nhân tố chi phối năng suất trong môi trường sản xuất công nghiệp: vai trò tổ chức của người quản lý, mức độ hiện đại hóa máy móc, trình độ kỹ năng cùng thái độ kỷ luật của người lao động, môi trường vi khí hậu nhà xưởng và tốc độ đổi mới quy trình công nghệ.
  • Trình bày bức tranh dệt may toàn cầu: Doanh thu toàn cầu năm 2016 đạt 1.323,1 tỷ USD (chiếm 1,7% GDP thế giới) và dự báo đạt 1.659,5 tỷ USD vào năm 2021 theo Euromonitor. Phân tích sự dịch chuyển sản xuất sang các nước đang phát triển, mô hình sản xuất tinh gọn (Lean), Quản lý chất lượng toàn diện (TQM), kinh nghiệm xuất khẩu dệt may thông qua các khu công nghiệp qualifying (QIZ) của Ai Cập, cũng như sự đầu tư tự động hóa tại Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ.
  • Đánh giá thực trạng dệt may Việt Nam năm 2017: Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 31 tỷ USD, xuất khẩu xơ sợi dệt đạt 1,23 triệu tấn (trị giá 3,27 tỷ USD), thặng dư thương mại đạt 15,5 tỷ USD; tuy nhiên năng suất lao động bình quân vẫn ở mức thấp do lao động chủ yếu qua đào tạo kèm cặp và các đơn hàng có tính phân tán cao.

Chương 2: Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của công nhân sản xuất trực tiếp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Dệt May Thiên An Thịnh

Chương 2 phản ánh chi tiết lịch sử phát triển, tổ chức sản xuất, tình hình tài chính và thực trạng năng suất lao động tại doanh nghiệp:

  • Quá trình phát triển và cơ sở vật chất: Doanh nghiệp thành lập ngày 19/12/2013. Tháng 4/2014 động thổ xây dựng nhà máy giai đoạn 1 với vốn đầu tư 152 tỷ đồng (Vietcombank tài trợ, quy mô 1,2 vạn cọc sợi) và chính thức vận hành thương mại vào tháng 5/2015. Cuối năm 2015, BIDV tài trợ giai đoạn 2 với 79 tỷ đồng để lắp đặt thêm 12 máy kéo sợi con Latino. Đến tháng 6/2016, nhà máy hoàn thiện quy mô 2,5 vạn cọc với tổng vốn đầu tư lũy kế 252 tỷ đồng.
  • Kết quả sản xuất kinh doanh và nguồn vốn (2015 – 2017): Tổng tài sản tăng từ 149,453 tỷ đồng (2015) lên 171,403 tỷ đồng (2016) và đạt 210,944 tỷ đồng (2017). Doanh thu năm 2016 đạt 208,216 tỷ đồng, tăng 259,23% so với mức 57,962 tỷ đồng năm 2015; năm 2017 doanh thu tiếp tục tăng lên 350,623 tỷ đồng (tăng 68,39%). Lợi nhuận sau thuế chuyển biến tích cực từ 1,917 tỷ đồng (2015) lên 3,725 tỷ đồng (2016) và 5,893 tỷ đồng (2017).
  • Cơ cấu lực lượng lao động: Tổng số lao động tăng từ 251 người (2015) lên 265 người (2016) và 290 người (2017). Cơ cấu nhân sự phản ánh rõ tính chất sản xuất ngành sợi:
    • Giới tính: Lao động nam chiếm tỷ trọng áp đảo (94,42% năm 2015; 95,85% năm 2016; 94,48% năm 2017) do môi trường vận hành máy móc nặng nhọc, độc hại; lao động nữ chỉ chiếm từ 4,15% đến 5,58%.
    • Độ tuổi: Lực lượng lao động có độ tuổi trẻ, nhóm từ 25 đến 35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (49,4% năm 2015; 50,9% năm 2016; 56,9% năm 2017), tiếp đến là nhóm 18 đến 25 tuổi (34,4% – 38,6%).
    • Trình độ chuyên môn: Lao động phổ thông và dưới phổ thông chiếm đại đa số (74,33% – 75,70%), trong khi trình độ đại học và sau đại học duy trì từ 17 – 18 người (khoảng 6,21% – 6,89%).
    • Tính chất lao động: Lao động trực tiếp chiếm tuyệt đại đa số (97,20% năm 2015; 93,58% năm 2016; 91,72% năm 2017).
  • Thực trạng năng suất lao động: Với số ngày sản xuất thực tế là 286 ngày/năm (sau khi khấu trừ 52 ngày Chủ nhật, 5 ngày nghỉ lễ, 7 ngày nghỉ phép và 15 ngày bảo trì/sự cố kỹ thuật), sản lượng sợi sản xuất tăng từ 3.336.600 kg (2015) lên 4.641.127 kg (2016). Năng suất lao động theo sản lượng hiện vật đạt 1,93 kg/người/giờ năm 2016 và nâng lên 2,12 kg/người/giờ năm 2017. Doanh thu bình quân trên một lao động năm 2016 tăng thêm 259,23% so với năm 2015 và tiếp tục tăng 68,39% trong năm 2017.
  • Đánh giá các yếu tố thực nghiệm: Doanh nghiệp đã triển khai thưởng nóng cho công nhân có NSLĐ vượt trội, thi đua định kỳ giữa 7 kíp máy, mở rộng nhà máy mới vào tháng 3/2016 và phối hợp đào tạo với Cao đẳng Công nghiệp Huế. Khóa luận thiết lập hệ thống bảng khảo sát 150 công nhân để đánh giá mức độ ảnh hưởng của 5 nhóm nhân tố (Quản lý phân công, Tư liệu sản xuất, Bản thân công nhân, Điều kiện làm việc, Khoa học công nghệ) qua kiểm định One-Sample T-Test.

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng suất lao động của công nhân sản xuất trực tiếp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Dệt May Thiên An Thịnh

Dựa trên định hướng phát triển của công ty và phân tích thực trạng sản xuất, tác giả định hình các giải pháp tập trung vào 5 nhóm nội dung chính:

  • Hoàn thiện công tác quản lý và phân công lao động: Chuẩn hóa quy trình giao ca giữa 7 kíp máy, rà soát lại định mức lao động kỹ thuật trên từng công đoạn kéo sợi, thiết lập cơ chế giám sát hỗ trợ nhằm giảm thiểu thời gian chờ việc của công nhân.
  • Nâng cao hiệu quả sử dụng tư liệu sản xuất: Thiết lập lịch bảo dưỡng định kỳ nghiêm ngặt cho hệ thống 12 máy kéo sợi con Latino và dây chuyền kéo sợi phụ trợ; kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ đứt sợi và tạp chất của nguyên liệu bông xơ đầu vào nhằm tránh gián đoạn máy.
  • Bồi dưỡng và phát triển kỹ năng cho công nhân: Mở rộng các khóa huấn luyện tay nghề tại chỗ, kèm cặp trực tiếp giữa thợ bậc cao và công nhân mới; áp dụng quy chế thi nâng bậc thợ gắn liền với thang bảng lương; hoàn thiện cơ chế khen thưởng theo chất lượng sản phẩm của từng kíp máy.
  • Cải thiện điều kiện môi trường lao động: Nâng cấp hệ thống hút bụi bông, kiểm soát độ ẩm và nhiệt độ nhà xưởng sợi theo tiêu chuẩn kỹ thuật; trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động nhằm bảo vệ thị giác, thính giác và đường hô hấp của công nhân.
  • Đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ: Từng bước nghiên cứu áp dụng các công cụ quản lý chất lượng và phương pháp sản xuất tinh gọn (Lean) nhằm loại bỏ thao tác thừa, tối ưu hóa công suất vận hành 2,5 vạn cọc sợi.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống chỉ tiêu tài chính, nhân sự và năng suất lao động thực tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư Dệt May Thiên An Thịnh thông qua các bảng biểu số liệu:

Chỉ tiêu tài chính và năng suất Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Tổng tài sản (triệu đồng) 149.453 171.403 210.944
Vốn chủ sở hữu (triệu đồng) 84.160 95.560 131.023
Nợ phải trả (triệu đồng) 65.293 76.944 80.924
Doanh thu (triệu đồng) 57.962 208.216 350.623
Lợi nhuận sau thuế (triệu đồng) 1.917 3.725 5.893
Lao động bình quân (người) 246 258 278
Tổng sản lượng sợi (kg) 3.336.600 4.641.127 (tăng >1,5 triệu kg)
NSLĐ bình quân hiện vật (kg/người/giờ) - 1,93 2,12
Cơ cấu nhân sự theo tiêu chí Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Tổng số lao động (người) 251 265 290
Cơ cấu theo giới tính:
- Lao động nam (người / tỷ lệ %) 237 (94,42%) 254 (95,85%) 274 (94,48%)
- Lao động nữ (người / tỷ lệ %) 14 (5,58%) 11 (4,15%) 16 (5,52%)
Cơ cấu theo độ tuổi:
- Từ 18 đến 25 tuổi (người / tỷ lệ %) 97 (38,65%) 100 (37,74%) 99 (34,14%)
- Từ 25 đến 35 tuổi (người / tỷ lệ %) 124 (49,40%) 135 (50,94%) 165 (56,90%)
- Trên 35 tuổi (người / tỷ lệ %) 30 (11,95%) 30 (11,32%) 26 (8,96%)
Cơ cấu theo tính chất lao động:
- Lao động trực tiếp (người / tỷ lệ %) 244 (97,20%) 248 (93,58%) 266 (91,72%)
- Lao động gián tiếp (người / tỷ lệ %) 7 (2,80%) 17 (6,42%) 24 (8,28%)
Cơ cấu theo trình độ học vấn:
- Đại học và sau đại học (người / tỷ lệ %) 17 (6,77%) 18 (6,79%) 18 (6,21%)
- Cao đẳng (người / tỷ lệ %) 28 (11,16%) 32 (12,08%) 30 (10,34%)
- Lao động phổ thông & dưới phổ thông 190 (75,70%) 197 (74,33%) 217 (74,83%)

Về mặt đóng góp, nghiên cứu đã vận dụng khung lý thuyết năng suất lao động vào môi trường sản xuất sợi công nghiệp, cung cấp số liệu thực nghiệm đầy đủ về quá trình tăng trưởng công suất từ 1,2 vạn lên 2,5 vạn cọc sợi của một doanh nghiệp dệt may tư nhân tại miền Trung. Kết quả nghiên cứu làm rõ các đặc điểm đặc thù của lao động ngành kéo sợi (tỷ trọng nam giới áp đảo, độ tuổi trẻ, trình độ phổ thông chiếm đa số) và xác lập các căn cứ thực tiễn để ban giám đốc công ty điều chỉnh chính sách giao khoán, tiền lương và bảo trì kỹ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Văn bản khóa luận ghi nhận một số hạn chế nhất định xuất phát từ điều kiện thực hiện:

  • Giới hạn về cỡ mẫu: Cỡ mẫu tính toán theo công thức thống kê là 384 đối tượng, nhưng do áp lực về thời gian và đặc thù dây chuyền vận hành theo ca kíp liên tục, tác giả chỉ khảo sát được 150 công nhân sản xuất trực tiếp.
  • Giới hạn về phạm vi khảo sát: Đề tài chỉ tập trung khảo sát tại một đơn vị sản xuất sợi đơn lẻ (Công ty Thiên An Thịnh), chưa mở rộng so sánh đối chuẩn (benchmarking) với các doanh nghiệp may mặc hoặc dệt kim khác trong cùng Khu Công nghiệp Phú Bài.
  • Hướng mở rộng nghiên cứu: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ lực lượng lao động gián tiếp và quản lý, áp dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) hoặc hồi quy đa biến để đo lường trọng số tác động của từng nhân tố đến năng suất lao động, đồng thời đánh giá tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến việc tự động hóa dây chuyền kéo sợi.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị nhân lực và Kinh tế phát triển khi thực hiện đề tài về năng suất lao động và định mức kỹ thuật trong doanh nghiệp sản xuất. Phần đáng tham khảo nhất của khóa luận là phương pháp xác định số ngày làm việc thực tế (286 ngày) để tính toán NSLĐ bình quân theo hiện vật ($kg/người/gi\grave{o}$) và giá trị ($doanh\ thu/người$), cùng cách thức thiết kế bảng hỏi phân bổ theo kíp máy trong dây chuyền kéo sợi liên tục. Ngoài ra, các số liệu thực tế về chi phí đầu tư thiết bị kéo sợi con Latino và cơ cấu nguồn vốn tài trợ ngân hàng (Vietcombank, BIDV) cung cấp dữ liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu về công nghiệp dệt may Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Quy mô thiết bị và vốn đầu tư của Công ty Thiên An Thịnh được mở rộng ra sao trong giai đoạn 2014 – 2016? Dự án được khởi công xây dựng giai đoạn 1 vào ngày 02/04/2014 với quy mô 1,2 vạn cọc sợi, tổng vốn đầu tư 152 tỷ đồng do Vietcombank Huế tài trợ, đưa vào sản xuất từ tháng 5/2015. Đến cuối năm 2015, công ty tiếp tục nhận nguồn tài trợ 79 tỷ đồng từ BIDV Huế để đầu tư giai đoạn 2 gồm 12 máy kéo sợi con Latino. Đến tháng 6/2016, nhà máy hoàn thiện tổng thể với quy mô 2,5 vạn cọc sợi và tổng vốn đầu tư đạt 252 tỷ đồng.

Chủng loại sản phẩm và thị trường tiêu thụ chính của doanh nghiệp là gì? Công ty chuyên sản xuất các loại sợi 100% cotton và sợi pha (T/C, CVC) có chỉ số Ne 20 đến Ne 45 dùng cho dệt kim và dệt thoi, với sản lượng khoảng 550 tấn sợi các loại/ngày. Trong đó, thị trường nội địa chiếm khoảng 20% đến 25%, còn 75% đến 80% sản lượng được xuất khẩu sang các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Bồ Đào Nha, Ấn Độ.

Vì sao cơ cấu lao động của công ty có tỷ lệ lao động nam chiếm trên 94%? Khác với phân ngành may mặc sử dụng phần lớn lao động nữ, Công ty Thiên An Thịnh chuyên về sản xuất sợi. Đây là ngành đòi hỏi tiêu tốn nhiều thể lực, làm việc theo 7 kíp máy vận hành dây chuyền liên tục, đòi hỏi công nhân phải hiểu rõ cách thức thao tác máy móc kéo sợi phức tạp, chịu được môi trường nóng, bụi và tiếng ồn lớn. Do đó, lao động nam chiếm tỷ trọng tuyệt đối (dao động từ 94,42% đến 95,85% trong giai đoạn 2015 – 2017).

Năng suất lao động theo sản lượng hiện vật của công nhân biến động như thế nào qua các năm? Dựa trên quỹ thời gian làm việc thực tế là 286 ngày/năm và quy mô lao động bình quân tăng từ 246 người (2015) lên 258 người (2016) và 278 người (2017), sản lượng sợi bình quân sản xuất trên một công nhân đạt 1,93 kg/giờ vào năm 2016 và tăng lên 2,12 kg/giờ vào năm 2017.

Tác giả đã lựa chọn cỡ mẫu điều tra sơ cấp như thế nào? Công thức chọn mẫu theo tỷ lệ lý thuyết ($p = 0{,}5; e = 0{,}05; Z = 1{,}96$) yêu cầu cỡ mẫu 384 người. Do giới hạn thời gian, tác giả thu thập mẫu khảo sát thực tế gồm 150 công nhân sản xuất trực tiếp. Vì nhà máy có 7 kíp máy nên tác giả chia đều mẫu khảo sát, mỗi kíp điều tra ngẫu nhiên khoảng 21 công nhân bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp vào giờ giải lao sau bữa ăn, đạt tỷ lệ phản hồi 100%.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đoàn Hải Hoàng Anh đã phản ánh toàn diện thực trạng biến động năng suất lao động của công nhân sản xuất trực tiếp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Dệt May Thiên An Thịnh giai đoạn 2015 – 2017 song hành với quá trình mở rộng quy mô từ 1,2 vạn lên 2,5 vạn cọc sợi. Bằng việc kết hợp dữ liệu thống kê sản xuất kinh doanh với khảo sát thực nghiệm trên 150 công nhân thuộc 7 kíp máy, tác giả đã làm rõ các đặc trưng về nhân khẩu học lao động và năng suất hiện vật ngành kéo sợi. Các đề xuất giải pháp trong khóa luận bám sát 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng, cung cấp căn cứ thực tiễn có giá trị phục vụ công tác quản trị và tối ưu hóa chi phí sản xuất tại doanh nghiệp dệt may.