CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ SỞ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 1. Khái niệm về phát triển kinh tế Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về qui mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội. Định nghĩa trên đã bao gồm những nội dung cơ bản sau: + Trước hết, sự phát triển bao gồm cả sự tăng thêm về khối lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. + Tăng thêm qui mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối của lượng và chất.
+ Sự phát triển là qui luật tiến hóa, song nó chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố nội lực của nền kinh tế có ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng. Kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội là kết quả của một quá trình vận động khách quan, còn mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đề ra là thể hiện sự tiếp cận tới kết quả đó. Phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một sự chuyển biến của nền kinh tế, từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn. Phát triển bền vững 1.
Khái niệm phát triển bền vững Ngày na y, đã nói đến phát triển là người ta nói tới phát triển bền vững. Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên được công bố trong một bài báo có nhan đề “Tương lai chung cho chúng ta” của tác giả Gro Harlem Brundland, một nhà môi trường người Na Uy làm việc trong Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển (WCED). Theo bà Brundland, phát triển bền vững được hiểu là “kiểu phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại, vừa không ảnh hưởng đến khả năng mà các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của mình”. Quản trị kinh doanh 2010B 11 Trần Ngọc Hưng Tháng 6 năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển tại Rio de Janiero đã đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững là “ sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng không tổn hại đến sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”.
Nhà nước ta cũng đã đưa ra quan niệm về phát triển bền vững là sự phát triển “thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần và văn hóa cho thế hệ hiện tại và tương lai của Việt Nam thông qua việc quản lý một các khôn khéo tài nguyên thiên nhiên. Xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch hành động và các cơ chế tổ chức nhằm đảm bảo khả năng sử dụng lâu bền các tài nguyên thiên nhiên được nhất thể hóa và liên kết chặt chẽ với tất cả các khía cạnh của quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước”. Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa thiên nhiên và con người, giữa tự nhiên và nhân tạo, giữa hiện tại và tương lai. Sự phát triển đó nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện tại nhưng không làm phương hại đến phát triển của xã hội tương lai.
Ngày na y, phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài cần đạt được của mọi quốc gia. Quan điểm phát triển bền vững Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xu yên suốt trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an ninh kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, mô hình tăng trưởng, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức.
Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết. Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững.
Phát Quản trị kinh doanh 2010B 12 Trần Ngọc Hưng triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong qui hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất là toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Để cụ thể hóa các quan điểm trên, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đã chỉ rõ: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”. Tính bền vững về sự nghiệp phát triển của ngành công nghiệp Đối với một ngành công nghiệp, tính bền vững về sự phát triển là rất quan trọng.
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, để đạt được mục tiêu phát triển trong dài hạn không chỉ phụ thuộc vào tốc độ phát triển cao trong ngắn hạn, mà còn phụ thuộc phần lớn vào sự bền vững của sự phát triển. Tính bền vững về sự phát triển của một ngành còn phụ thuộc vào chất lượng và trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của ngành đó, vào sự đầu tư và kết hợp hợp lý giữa các yếu tố đầu vào để đảm bảo sự phát triển ổn định và cân đối, trình độ quản lý ngành và hiệu quả kinh doanh của ngành sản xuất đó. Phát triển bền vững của một ngành không chỉ đảm bảo đáp ứng nhu cầu gia tăng của thị trường mà còn thể hiện mức độ thỏa mãn nhu cầu thị trường bằng những sản phẩm và dịch vụ đa dạng phong phú, có chất lượng cao và ổn định. Để có cơ sở đưa ra các giải phát duy trì phát triển bền vững ngành công nghiệp chúng ta cần xem xét các tiêu chí đánh giá và các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành.
Các nhân tố ảnh hưởng và các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp 1. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp Quản trị kinh doanh 2010B 13 Trần Ngọc Hưng Các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đã chỉ ra rằng có hai nhóm các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của một ngành công nghiệp. Các nhân tố kinh tế Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào (nguồn lực sản xuất) theo các cách thức nhất định để tạo ra các đầu ra (đó là tổng sản phẩm trong nước - GDP hay Tổng thu nhập quốc dân – GNP) theo nhu cầu xã hội. Nếu ta gọi các biến số đầu vào là nguồn vốn (K), lực lượng lao động (L), nguồn tài nguyên thiên nhiên (R) và nguồn lực khoa học và công nghệ (T), hàm số đầu vào là (Y), thì sự tăng trưởng có mối quan hệ hàm số sau: Y = f (K, L, R, T) Như vậy, các yếu tố đầu vào có tác động nhất định tới sự tăng trưởng của ngành.
Tuy còn nhiều tranh cãi nhưng các yếu tố đầu vào đã nêu trên đang được xem là quyết định nhất và tác động lớn nhất đến tăng trưởng và phát triển của ngành. - Vốn sản xuất là một yếu tố đầu vào của doanh nghiệp được trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất hiện tại cùng với các yếu tố sản xuất khác để tạo ra sản phẩm hàng hoá (đầu ra). Nó là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, kho tàng, kết cấu hạ tầng và kỹ thuật… Vốn đối với sản xuất là yếu tố vô cùng quan trọng. Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng hoặc trong khi số lao động không đổi, tăng vốn bình quân đầu người lao động cũng sẽ làm gia tăng sản lượng.
Tất nhiên, trong thực tế sự tăng thêm giá trị sản lượng hàng hoá còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, chẳng hạn chất lượng lao động, trình độ kỹ thuật. Hơn nữa, tốc độ tăng trưởng, tốc độ gia tăng sản lượng và chất lượng tăng trưởng còn phụ thuộc vào cơ cấu vốn, trình độ quản lý vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp và của ngành công nghiệp đó. - Lực lượng lao động là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất. Nguồn sức lao động được tính trên tổng số người ở tuổi lao động và có khả năng lao động trong dân số.
Nguồn lao động với tư cách là yếu tố đầu vào trong sản xuất, Quản trị kinh doanh 2010B 14 Trần Ngọc Hưng cũng giống như các yếu tố khác được tính bằng tiền, trên cơ sở giá cả lao động được hình thành do thị trường và mức tiền lương quy định. Là yếu tố sản xuất đặc biệt, do vậy lượng lao động không đơn thuần chỉ là số lượng (đầu người hay thời gian lao động) mà còn bao gồm chất lượng của lao động, người ta gọi là vốn nhân lực. Đó là con người bao gồm trình độ tri thức học vấn và những kĩ năng, kinh nghiệm lao động sản xuất nhất định. Do vậy, những chi phí nhằm nâng cao trình độ người lao động – vốn nhân lực, cũng được coi là đầu tư dài hạn cho đầu vào.
Như vậy, mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người qu yết định, nhất là lao động có kĩ thuật, kinh nghiệm và kĩ năng lao động. Do đó, chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất.