CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu Để xác định được vấn đề nghiên cứu, khe hổng nghiên cứu, khái niệm, và các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch TTKT, chương này tập trung phân tích tổng quan các nghiên cứu nổi bật trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến minh bạch TTKT và các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch TTKT trong khu vực công. Nội dung tổng quan nghiên cứu gồm 03 phần: (1) giới thiệu minh bạch TTKT trong và ngoài nước; (2) giới thiệu các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch TTKT trong và ngoài nước; (3) nhận xét về các nghiên cứu trong và ngoài nước; và (4) khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án. Nghiên cứu về minh bạch TTKT và nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch TTKT Để tổng hợp các công trình nghiên cứu nước ngoài, tác giả đã tìm luận án, bài báo từ các tạp chí có uy tín thông qua các nguồn tìm kiếm như Science Direct, Emerald, Proquest Data, Google Scholar,….với các từ khóa tìm kiếm: Transparency, Financial transparency, Public sector accounting, Governmental accounting disclosure, Transparency of accounting information, Factors influence information transparency, Accountability, Quality of accounting information.
Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả dùng các từ khóa tìm kiếm như minh bạch, minh bạch thông tin, TTKT khu vực công, công bố thông tin tài chính, nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch TTKT, trách nhiệm giải trình, và chất lượng thông tin. Nguồn dữ liệu tìm kiếm là thư viện của các trường đại học lớn tại Việt Nam như Đại học Kinh tế TP.HCM, Đại học Đà Nẵng, Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện tài chính, Đại học công nghiệp Hà Nội và một số tạp chí uy tín trong nước như tạp chí Phát triển kinh tế, Kế toán – Kiểm toán, Ngân hàng, Tài chính, Chứng khoán Việt Nam, Công nghệ ngân hàng, Kế toán. Sau khi có được các nghiên cứu, một phân tích toàn diện được thực hiện bằng cách xem xét các tiêu đề, tóm tắt, từ khóa, và giới thiệu của từng bài báo để đảm bảo rằng mục tiêu nghiên cứu của bài báo này có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Sau đó, tác giả đọc toàn bộ bài báo để tổng hợp cơ sở lý thuyết cần thiết cho nghiên cứu.
Khi hoàn thành bước này, nhằm tránh sự thiếu hụt trong việc tổng quan các nghiên cứu có liên quan, tác giả chọn những bài báo quan trọng nhất trong quá trình tìm kiếm trước và thực hiện phân tích các tài liệu tham khảo mà họ đã trích dẫn để tìm kiếm thêm những nghiên cứu có ý nghĩa cho nghiên cứu và tiếp tục thực hiện theo tuần tự như các bước ở trên. Bảng tổng hợp nghiên cứu về minh bạch TTKT ở phụ lục 01 trang 1PL. Nghiên cứu về minh bạch TTKT 123doc 7 1. Các nghiên cứu nước ngoài về minh bạch TTKT Khi nghiên cứu về minh bạch TTKT, các nhà nghiên cứu thường dựa trên lý thuyết thông tin hữu ích (William và Pavenscroft, 2015; Williams, 2015), lý thuyết đại diện (Alesina và Perotti, 1996; Alt và cộng sự, 2001; Ferejohn, 1999), lý thuyết thông tin bất cân xứng (Stiglitz, 1999; Florini, 2007) và lý thuyết tín hiệu (Williams, 2015; Kopits và Craig, 1998) để lý giải sự cần thiết phải minh bạch TTKT.
TTKT minh bạch giữ vai trò quan trọng trong khu vực công bởi sự tồn tại của mối quan hệ phức tạp giữa nhà nước, nhà tài trợ, nhà quản lý và người hưởng lợi. Nhà nước, nhà tài trợ, người dân chỉ dựa vào BCKT để đánh giá NSNN, các khoản đóng góp - được các nhà quản lý công sử dụng như thế nào. Do đó, BCKT không minh bạch là trở ngại để đánh giá hiệu suất và hiệu quả hoạt động của một đơn vị (Burger và Owens, 2010). Lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết đại diện và lý thuyết tín hiệu được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để giải thích cho vấn đề này.
Người đại diện (nhà quản lý) muốn giảm sự hoài nghi về bất cân xứng thông tin cần phát tín hiệu đáng tin cậy đến người ủy quyền (nhà nước, công dân, nhà tài trợ, viện trợ…) thông qua công bố công khai (Williams, 2015). Kopits và Craig (1998) cũng khẳng định để minh bạch TTKT các đơn vị và cán bộ công chức phải có trách nhiệm công bố về các chính sách, kế hoạch tài chính, kết quả hoạt động như một cơ chế ràng buộc. Tuy nhiên, qua tổng quan nghiên cứu cho thấy minh bạch TTKT là một khái niệm trừu tượng, nó được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau và vẫn chưa có khái niệm nào được sử dụng thống nhất trên thế giới (Dapko, 2012). Nhìn chung, theo lý thuyết minh bạch và các nghiên cứu trước cho thấy minh bạch TTKT được tiếp cận theo cách hướng đến minh bạch thông tin theo ba hướng: (1) công bố thông tin (Zimmerman, 1977; Ingram, 1984; Jaggi và Low, 2000); (2) chất lượng thông tin (Fitrios, 2016); và (3) trách nhiệm giải trình (Finkelstein, 2000; Aziz và cộng sự, 2015; Harrison và Sayogo, 2014).
Chính vì vậy, để xác định được vấn đề nghiên cứu, khe hổng nghiên cứu, khái niệm, và các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch TTKT, quá trình phân tích tổng quan tập trung vào các nghiên cứu nổi bật liên quan trực tiếp đến công bố TTKT, chất lượng TTKT và trách nhiệm giải trình trong khu vực công. Từ tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài cho thấy xu hướng và lĩnh vực nghiên cứu về minh bạch TTKT thay đổi tương xứng với sự phát triển kinh tế thế giới trong vài thập kỷ qua. Nhận định này cũng tương tự như Abu Bakar và Saleh (2015) và Rodríguez Bolívar và cộng sự (2013). Từ những lý do này, bố cục của phần tổng quan nghiên cứu sẽ trình bày kết hợp các dòng nghiên cứu theo các nội dung hướng đến minh bạch TTKT trong khu vực công và ngoài khu vực công và theo xu hướng nghiên cứu qua các giai đoạn phát triển.
Công bố thông tin 123doc 8 Minh bạch thông tin nói chung và TTKT nói riêng trong khu vực công nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới từ những năm 1970 và kéo dài đến ngày nay. Trong giai đoạn đầu, nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng công bố như là một tín hiệu cho minh bạch và là tiền đề cho minh bạch (Rawlins, 2009), nên các nhà khoa học tập trung xác định vai trò của việc công bố TTKT để hướng đến minh bạch TTKT. Hướng tiếp cận này tương đồng với giá trị cốt lõi của minh bạch theo lý thuyết minh bạch là “tự do thông tin” và “quyền để biết” (Fenster, 2015). Việc công bố thông tin làm cho thông tin sẵn có là một biểu hiện không thể thiếu của minh bạch.
Thông qua việc các đơn vị công công bố thông tin sẽ làm gia tăng sự tham gia của người dân vào việc giám sát các hoạt động của Chính phủ cũng như nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị này (Fenster, 2015). Tại thời điểm này, hướng nghiên cứu về minh bạch TTKT được chú trọng ở Hoa Kỳ (Zimmerman, 1977; Ingram, 1984; Robbins và Austin, 1986; Ingram và DeJong, 1987; Giroux, 1989.) ngoại trừ duy nhất một nghiên cứu được thực hiện tại Ấn Độ của Singh và Bhargava (1978). Từ những năm 1990, bắt nguồn từ bối cảnh toàn cầu hóa, thị trường vốn bị chi phối đáng kể bởi sự đa dạng về kế toán giữa các quốc gia đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu chú trọng hơn nữa trong việc xem xét đến công bố TTKT của các quốc gia nhằm đảm bảo minh bạch TTKT hỗ trợ cho các quyết định đầu tư đa quốc gia. Bởi vì các nhà nghiên cứu khẳng định thông tin minh bạch chỉ khi thông tin đó được công bố công khai và không có gì để che dấu (Solberg, 2010).
Tương tự những năm 1990, các nghiên cứu về công bố BCKT trong những năm sau đó tiếp tục được thực hiện nhiều tại Hoa Kỳ (ví dụ: Copley, 1991; Allen và Sanders, 1994; Sanders và cộng sự, 1994; Cheng, 1992; Gordon và cộng sự, 2002). Với sự cấp thiết của nhu cầu hiện tại, trong khoảng thời gian này đã đánh dấu một khởi đầu mới khi các nghiên cứu bắt đầu tiến tới các quốc gia phát triển khác như New Zealand (Dixon, Coy và Tower, 1991), Úc (Lim và Mckinnon, 1993), Anh (Pendlebury, Jones và Karbhari, 1994), Bỉ (Christiaens, 1999). Tuy nhiên, dường như vẫn không có nghiên cứu được thực hiện tại quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Từ những năm 2000 trở đi, các nghiên cứu không chỉ dừng lại ở thông tin tài chính và phi tài chính (Taylor và Rosair, 2000; Ryan, Stanley và Nelson, 2002), mà còn chú trọng đến công bố báo cáo hoạt động của các đơn vị công (Smith, 2004; Yang, 2008; Marcuccio và Steccolini, 2009).
Thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu quan tâm đến minh bạch thông tin có xu hướng nghiên cứu về cung cấp thông tin bền vững (hay còn gọi là báo cáo môi trường và xã hội) (Villiers và Staden, 2014). Thông tin bền vững là một sự kết hợp giữa môi trường với các chính sách kinh tế, chính sách công, và việc ra quyết định liên quan đến tất cả các hoạt động kinh tế và môi trường (WCED, 1987). Hướng nghiên cứu này được đẩy mạnh từ năm 2008 và lý do 123doc 9 của việc chuyển dịch này là: (1) Khủng hoảng tài chính ảnh hưởng trầm trọng đến các quốc gia trên toàn thế giới, nên thông tin bền vững của Chính phủ trở nên cấp thiết (Navarro-Galera và cộng sự, 2010; Benito và cộng sự, 2007; Pina và cộng sự, 2007); (2) Mức độ thâm hụt và nợ công ngày càng tăng cao tại nhiều quốc gia (IGAE, 2011); (3) Báo cáo bền vững giữ vai trò quan trọng trong mối quan hệ với chính trị và xã hội (Lansu và cộng sự, 2013). Không những thế, các nhà nghiên cứu còn mở rộng nghiên cứu công bố báo cáo trên Internet hoặc Websites hơn là báo cáo bằng bản cứng.
Như là một hiện tượng khá phù hợp với sự phát triển và tăng trưởng của CNTT trong thời đại này. Các nước châu Âu thống trị xu hướng nghiên cứu này (ví dụ: Alcaraz-Quiles, Navarro-Galera, và OrtizRodríguez, 2014; Alcaraz-Quiles, Navarro-Galera và Ortiz-Rodríguez, 2015; García-Sánchez, Frías-Aceituno, và Rodríguez-Domínguez, 2013; Navarro Galera và cộng sự, 2014) và sau đó mở rộng sang các quốc gia đang phát triển như Malaysia (Joseph, Pilcher và Taplin, 2014), quốc gia phương Đông là Đài Loan (Yang, 2008). Về đối tượng nghiên cứu, trong khu vực công, chính quyền địa phương vẫn nhiều nhất vì đơn vị này là nơi trực tiếp sử dụng NSNN để cung cấp dịch vụ công.