Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học phổ thông tại Việt Nam nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng đang đặt ra nhiều thách thức lớn cho bài toán quy hoạch nguồn nhân lực. Theo số liệu thống kê từ Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng năm 2013 đạt 28% và tăng lên 30,4% vào năm 2014. Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo và dạy nghề chung của tỉnh đạt 57%, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chuyên biệt chỉ đạt 43,61%. Điều này phản ánh rõ nét tình trạng thiếu hụt kỹ thuật viên và công nhân lành nghề phục vụ cho 20 cụm công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch 902,48 ha trên địa bàn tỉnh. Trong khi đó, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại địa phương luôn đối mặt với tình trạng tuyển sinh thiếu chỉ tiêu, tỷ lệ bỏ học cao và mất cân đối cơ cấu ngành nghề.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích, lượng hóa các nhân tố kinh tế, xã hội và tâm lý cá nhân chi phối đến quyết định lựa chọn học nghề thay vì thi đại học, cao đẳng của thanh niên sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông. Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát trên địa bàn thành phố Tây Ninh - trung tâm kinh tế, giáo dục của tỉnh, trong mốc thời gian tháng 12 năm 2014. Ý nghĩa của luận văn thể hiện ở việc xây dựng mô hình thực nghiệm có độ dự báo chính xác đạt 74,73%, tạo cơ sở khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý điều chỉnh chính sách an sinh, hỗ trợ đào tạo nghề và phân luồng lao động hiệu quả, hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn kết hợp hai nền tảng lý thuyết cốt lõi trong kinh tế học giáo dục và tâm lý học hành vi:

Thứ nhất, Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) được Icek Ajzen phát triển năm 1991 từ Thuyết hành động hợp lý (TRA). Lý thuyết này chỉ ra rằng hành vi lựa chọn học nghề của cá nhân bị chi phối trực tiếp bởi ý định hành vi, vốn được cấu thành từ ba nhân tố: thái độ đối với việc học nghề, chuẩn chủ quan (tiêu chuẩn xã hội từ gia đình, bạn bè, láng giềng) và nhận thức kiểm soát hành vi (năng lực tài chính, kết quả học tập).

Thứ hai, Lý thuyết đầu tư cho giáo dục và vốn con người thông qua mô hình hàm thu nhập của Jacob Mincer (1974). Theo Mincer, quyết định đi học là sự đánh đổi giữa chi phí trực tiếp, chi phí cơ hội do gia nhập thị trường lao động muộn hơn với kỳ vọng về tỷ suất thu hồi nội bộ (Internal Rate of Return - IRR) thông qua thu nhập tương lai.

Các khái niệm chính được vận dụng bao gồm: Đào tạo nghề nghiệp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Thái độ cá nhân đối với nghề nghiệp được đo lường qua thang đo Likert 7 điểm, Suất sinh lợi của giáo dục, và Khung trình độ quốc gia gồm 8 bậc đào tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh và Tổng cục Dạy nghề. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phát bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp đối với các cá nhân trong hộ gia đình đã tốt nghiệp trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tây Ninh. Quá trình thu thập trải qua 2 giai đoạn: phỏng vấn thử nghiệm trên mẫu 20 hộ gia đình để hoàn thiện thang đo, sau đó tiến hành phát ngẫu nhiên 150 phiếu điều tra chính thức trong tháng 12 năm 2014, thu về 119 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi đạt 79,33%).

Về phương pháp phân tích, đề tài áp dụng mô hình hồi quy Binary Logistic xử lý trên phần mềm Stata 12 và Excel. Lý do lựa chọn mô hình này là vì biến phụ thuộc mang tính nhị phân (nhận giá trị 1 nếu chọn học nghề và 0 nếu chọn thi đại học, cao đẳng). Phương pháp này cho phép ước lượng chính xác xác suất xảy ra hành vi và tính toán hệ số tác động biên mà không vi phạm các giả định phân phối chuẩn như các mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô hình hồi quy Binary Logistic mang lại giá trị dự báo tổng thể chính xác đạt 74,73% với các phát hiện thống kê quan trọng:

Giới tính có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê ở mức 10% đến quyết định học nghề với hệ số hồi quy 2,086 và hệ số tác động biên là 0,355 (p-value = 0,002). Điều này chỉ ra rằng nam giới có xác suất lựa chọn học nghề cao hơn nữ giới tới 35,5% khi các yếu tố khác không đổi.

Độ tuổi của người trả lời có mối tương quan thuận rõ rệt với quyết định học nghề (hệ số hồi quy 0,364; tác động biên 0,081; p-value = 0,025). Khi độ tuổi tăng thêm 1 tuổi, xác suất lựa chọn học nghề tăng thêm 8,1%. Độ tuổi trung bình của mẫu khảo sát là 20,28 tuổi.

Quy mô hộ gia đình có tác động cùng chiều đến quyết định học nghề với hệ số hồi quy 0,735 và tác động biên là 0,164 (p-value = 0,025). Trung bình khi hộ gia đình có thêm 1 thành viên, xác suất cá nhân chọn học nghề tăng 16,4%.

Số lượng thành viên trong gia đình còn đang đi học có tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê ở mức 10% (hệ số -0,944; tác động biên -0,211; p-value = 0,065). Nếu số người đi học trong nhà tăng thêm 1 người thì xác suất lựa chọn học nghề giảm 21,1%.

Khảo sát thang đo tâm lý cho thấy ý định học nghề chính quy (trung cấp, cao đẳng nghề) đạt mức trung bình cao là 5,86 trên thang điểm 7, trong khi ý định học nghề ngắn hạn chỉ đạt mức thấp là 2,45 trên 7. Trình độ học vấn của chủ hộ và thu nhập hộ gia đình không có ý nghĩa thống kê ở mức 10%.

Thảo luận kết quả

Kết quả hồi quy phản ánh đúng thực trạng kinh tế - xã hội tại Tây Ninh. Nam giới và nhóm đối tượng có độ tuổi lớn hơn thường chịu áp lực tài chính sớm, cần nhanh chóng gia nhập thị trường lao động để kiếm sống, do đó giáo dục nghề nghiệp với thời gian đào tạo ngắn từ 1 đến 2 năm là lựa chọn tối ưu. Quy mô hộ gia đình càng lớn (trung bình 4,43 người) tạo động lực chọn trường nghề để giảm bớt gánh nặng học phí đại học kéo dài 4 đến 5 năm.

Khi so sánh với các nghiên cứu của Suwannapirom tại Thái Lan hay Ming-Shan Hsu tại Đài Loan, kết quả có sự tương đồng về ảnh hưởng của đặc điểm nhân khẩu học. Tuy nhiên, biến thái độ đối với việc học nghề lại không có ý nghĩa thống kê (p-value = 0,887). Điều này chứng minh rằng dù nhận thức cá nhân về học nghề là tích cực, nhưng rào cản về tâm lý xã hội từ bạn bè (điểm đánh giá 3,24 trên 7) và láng giềng (3,32 trên 7) cùng áp lực kinh tế thực tế mới là nhân tố mang tính quyết định.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh mức độ tác động biên của 4 nhóm biến chính và bảng ma trận tương quan giữa 7 biến độc lập, giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện nhanh nhóm đối tượng mục tiêu cần can thiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và học bổng học nghề. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Sở Tài chính tỉnh Tây Ninh cần triển khai gói hỗ trợ sinh hoạt phí từ 1 đến 2 triệu đồng mỗi tháng và miễn 100% học phí cho học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông tham gia học trung cấp, cao đẳng nghề. Mục tiêu hướng tới là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của tỉnh lên mức trên 55% vào năm 2020, đặc biệt ưu tiên các gia đình có từ 2 con trở lên đang trong độ tuổi đi học.

Thứ hai, đẩy mạnh liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng giữa nhà trường và doanh nghiệp. Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng nghề Tây Ninh (quy mô 1.600 học sinh) và Trường Trung cấp nghề khu vực Nam Tây Ninh (quy mô 800 học sinh) cần ký kết thỏa thuận hợp tác trực tiếp với các doanh nghiệp tại 20 cụm công nghiệp và Khu công nghiệp Trảng Bàng. Doanh nghiệp tham gia xây dựng giáo trình thực hành và cam kết giải quyết việc làm cho 85% đến 90% học viên tốt nghiệp ngay trong 6 tháng đầu tiên.

Thứ ba, tái cấu trúc chương trình đào tạo theo mô-đun và tín chỉ linh hoạt. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần áp dụng ngay Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, rút ngắn thời gian đào tạo trình độ trung cấp xuống còn 1 đến 2 năm, áp dụng chuẩn kỹ năng 8 bậc trong Khung trình độ quốc gia từ quý 3 năm 2015. Giải pháp này giúp người học có thể tích lũy chứng chỉ và gia nhập thị trường lao động sớm.

Thứ tư, đổi mới công tác truyền thông và hướng nghiệp học đường. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức các chương trình tư vấn hướng nghiệp định kỳ tại 100% các trường trung học phổ thông, tập trung thay đổi nhận thức của 28,57% phụ huynh có trình độ trung học cơ sở về cơ hội thăng tiến và thu nhập của công nhân kỹ thuật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh có thể sử dụng các hệ số tác động biên (xác suất lựa chọn 35,5% của nam giới, 16,4% của quy mô hộ) để xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, kế hoạch phân luồng học sinh sau trung học phổ thông và phân bổ ngân sách đào tạo nghề giai đoạn 2016-2020.

Ban giám hiệu và cán bộ tuyển sinh các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Các trường cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn tỉnh có thể khai thác phát hiện về mức độ ưu tiên học nghề chính quy (điểm trung bình 5,86 trên 7) để tái cấu trúc chương trình đào tạo theo tín chỉ, xây dựng các gói truyền thông tuyển sinh nhắm đúng vào nhóm học sinh nam từ 18 đến 22 tuổi.

Chuyên gia nghiên cứu và học viên cao học ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển: Nghiên cứu cung cấp một tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa mô hình TPB và hàm Mincer, cách thức xử lý hồi quy Binary Logistic trên phần mềm Stata 12 với bộ dữ liệu khảo sát 119 quan sát thực tế.

Chuyên viên tư vấn hướng nghiệp và giáo viên chủ nhiệm tại các trường phổ thông: Nắm bắt các rào cản tâm lý từ bạn bè, láng giềng và áp lực tài chính hộ gia đình để định hướng nghề nghiệp thực tế cho học sinh lớp 12 trước kỳ thi tốt nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao yếu tố giới tính lại có tác động mạnh nhất đến quyết định học nghề tại Tây Ninh? Mô hình hồi quy chỉ ra nam giới có xác suất chọn học nghề cao hơn nữ giới 35,5% (p-value = 0,002). Điều này xuất phát từ đặc thù cơ cấu sản xuất tại 20 cụm công nghiệp của tỉnh, nơi nhu cầu tuyển dụng công nhân kỹ thuật cơ khí, điện, vận tải chiếm tỷ trọng lớn, tạo cơ hội việc làm nhanh chóng cho lao động nam.

Quy mô hộ gia đình ảnh hưởng như thế nào đến sự lựa chọn giữa học nghề và học đại học? Khi quy mô gia đình tăng thêm 1 thành viên, xác suất chọn học nghề tăng thêm 16,4% (p-value = 0,025). Với các hộ gia đình có thu nhập trung bình từ 3 đến 5 triệu đồng mỗi tháng, việc có đông nhân khẩu buộc gia đình phải chọn học nghề ngắn hạn để giảm chi phí học tập và sớm có nguồn thu nhập phụ giúp kinh tế.

Vì sao thái độ cá nhân đối với học nghề không có ý nghĩa thống kê trong mô hình? Hệ số của biến thái độ có p-value = 0,887 (không có ý nghĩa ở mức 10%). Mặc dù điểm nhận thức về lợi ích học nghề đạt mức khá (4,85 trên 7), nhưng quyết định thực tế của thanh niên bị chi phối chủ yếu bởi áp lực tài chính gia đình và định kiến tiêu cực từ cộng đồng láng giềng (điểm 3,32 trên 7).

Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông trúng tuyển đại học tác động ra sao đến giáo dục nghề nghiệp tại Tây Ninh? Tỷ lệ trúng tuyển đại học, cao đẳng của tỉnh chỉ dao động từ 28% năm 2013 đến 30,4% năm 2014. Gần 70% học sinh không vào đại học chính là nguồn tuyển sinh tiềm năng rất lớn nhưng chưa được các trường nghề thu hút hiệu quả do thiếu thông tin định hướng.

Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 mang lại lợi ích cụ thể nào cho người học nghề? Luật cho phép đào tạo liên thông theo tín chỉ, rút ngắn thời gian học trung cấp còn 1 đến 2 năm đối với người tốt nghiệp trung học cơ sở, đồng thời quy định sinh viên tốt nghiệp cao đẳng nghề được công nhận danh hiệu kỹ sư thực hành hoặc cử nhân thực hành.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa thành công các yếu tố quyết định lựa chọn học nghề tại Tây Ninh với mô hình Logistic đạt độ chính xác phân loại 74,73%.
  • Xác định nam giới (tăng 35,5%), độ tuổi (tăng 8,1% mỗi năm tuổi) và quy mô hộ (tăng 16,4% mỗi thành viên) là các động lực chính thúc đẩy học nghề.
  • Chỉ ra áp lực số người đi học trong nhà làm giảm 21,1% xác suất chọn học nghề, đòi hỏi chính sách hỗ trợ học phí trúng đích.
  • Khẳng định nhu cầu người học tập trung vào hệ chính quy dài hạn (điểm 5,86 trên 7) thay vì các khóa sơ cấp ngắn hạn.
  • Đề xuất mô hình gắn kết đào tạo giữa 2 trường nghề trọng điểm với 20 cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Đóng góp lớn nhất của đề tài là cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc giúp chính quyền tỉnh Tây Ninh ban hành các chính sách an sinh và giáo dục phù hợp với Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014. Trong giai đoạn 2016-2020, tỉnh cần khẩn trương số hóa công tác hướng nghiệp và ký kết đơn đặt hàng đào tạo với doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý, trường nghề và doanh nghiệp hãy chủ động hợp tác để biến giáo dục nghề nghiệp thành đòn bẩy phát triển kinh tế bền vững.