Chương 1 đã bao gồm các đề mục quan trọng như tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết liên quan đến lợi nhuận của NHTMCP. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận 2.
Định nghĩa về ngân hàng thương mại Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Luật các Tổ chức tín dụng Số 47/2010/QH12 khái niệm về NHTM được định nghĩa: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng hàm ý quản trị, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại cổ phần là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại cổ phần có chức năng thu hút nguồn vốn trước hết bằng huy động tiền gửi, phát hành kì phiếu, trái phiếu, sau đó sử dụng nguồn vốn này thực hiện cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng.
Ngoài ra còn có các dịch vụ khác: Thanh toán, chuyển tiền, bảo lãnh, ủy thác,…” Các tổ chức tín dụng đang thể hiện giá trị của họ như một trung gian giữa những người tiết kiệm và những người đi vay với tư cách là trung gian tài chính. NHTMCP đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng cho các tổ chức này. Khi họ chấp nhận tiền gửi từ người dân và các tổ chức trong nền kinh tế và sử dụng tiền để tạo ra các khoản vay và đầu tư vào các tài sản sinh lãi khác, các NHTMCP đang đóng một vai trò lớn hơn trong hệ thống tài chính. Ngoài ra, NHTMCP cung cấp nhiều loại thanh toán, tín hiệu ứng dụng và dịch vụ tài chính cho các đối tượng kinh tế khác nhau.
NHTMCP được chọn là trọng tâm chính của nghiên cứu vì vai trò quan trọng và tác động xã hội đáng kể của nó. Khái niệm về lợi nhuận ngân hàng thương mại Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Tú (2013), lợi nhuận của NHTMCP là kết quả giữa tổng doanh thu phải thu trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý. Lợi nhuận thực hiện trong năm là kết quả kinh doanh của NHTMCP gồm lợi nhuận hoạt động nghiệp vụ và lợi nhuận các hoạt động khác. Lợi nhuận là thước 8 đo chỉ ra hiệu quả hoạt động của NHTMCP và đóng vai trò là nguồn tích luỹ quan trọng có thể được sử dụng để tăng vốn tự có và thúc đẩy hoạt động kinh doanh.
Khả năng các NHTMCP kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất giữa các khoản cho vay và tiền gửi của khách hàng phụ thuộc đáng kể vào việc các bộ phận dịch vụ của họ hoạt động tốt như thế nào. Điều này nói lên rằng lãi suất tính cho khách hàng khi vay tiền từ ngân hàng cao hơn lãi suất tính cho khách hàng khi gửi tiền. Ngân hàng kiếm được lợi nhuận ròng do chênh lệch này. Do đó, tác giả của nghiên cứu chú trọng vào việc cải thiện thu nhập của ngân hàng đồng thời tối thiểu hóa chi phí hoạt động.
Ngân hàng cũng tìm cách tăng thu nhập thông qua các nỗ lực liên quan đến dịch vụ khác. Phí dịch vụ, phí thẻ tín dụng, phí giao dịch và các loại phí khác liên quan đến dịch vụ tài chính có thể được bao gồm trong các hoạt động này. Các ngân hàng có thể tăng thu nhập bằng cách cung cấp các dịch vụ hiệu quả và tính phí khách hàng. Các ngân hàng có thể giảm chi phí và tăng lợi nhuận ròng bằng cách hợp lý hóa hoạt động và tối ưu hóa lợi nhuận ròng.
Các chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận ngân hàng thương mại - Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on Assets - ROA) ROA đo lường lợi nhuận trên mỗi đơn vị tài sản của ngân hàng. Khả năng sinh lời trên tổng tài sản của ngân hàng đánh giá ngân hàng có thể kiếm được bao nhiêu lợi nhuận trên mỗi đơn vị tài sản, là thước đo thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả của các khoản đầu tư hay hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của ngân hàng. ROA hỗ trợ các nhà quản lý ngân hàng trong việc xác định tổng năng lực của ngân hàng để tạo ra thu nhập từ tài sản của mình.
Mọi tài sản được xem như một khoản đầu tư, nó được công nhận như một công cụ để nhận định hiệu quả đầu tư của ngân hàng. Các nhà đầu tư cũng có thể biết được từ ROA bao nhiêu lợi nhuận được tạo ra từ tài sản của ngân hàng. Nói một cách đơn giản, ROA đo lường mức độ hiệu quả của tiền đầu tư được chuyển thành lợi nhuận. ROA càng cao, hoặc càng nhiều thu nhập từ chi phí thấp hơn và sử dụng nguồn lực hiệu quả, thì ngân hàng càng tạo ra nhiều tiền với đầu tư ít hơn.
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE) 9 ROE là tỷ số quan trọng, tỷ số này đo lường lợi nhuận trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu. Lượng VCSH và chất lượng của những khoản lợi nhuận đó được đo lường chính xác bằng ROE. Là mục tiêu mà các ngân hàng hướng tới và nó đánh giá hiệu quả sử dụng VCSH. Các nhà đầu tư thường xuyên kiểm tra tỷ lệ ROE của các công ty trên thị trường cùng ngành để xác định nên mua cổ phiếu của ngân hàng nào.
Tỷ lệ ROE cao chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng tốt VCSH và cân bằng giữa VCSH và vốn vay để hưởng lợi từ quy mô và cạnh tranh. Do đó, một công ty càng thu hút các nhà đầu tư thì ROE càng cao. Trong khi một khoản đầu tư có ROE thấp ngụ ý việc sử dụng VCSH để tạo ra lợi nhuận là thiếu hiệu quả, làm giảm tính cạnh tranh và hấp dẫn ít hơn, thì ROE cao sẽ giúp tối đa hóa lợi thế cho chủ sở hữu, làm giảm khả năng cạnh tranh và thu hút vốn cho ngân hàng. Mặc dù ROA và ROE có các giá trị riêng biệt nhưng cả hai đều cho thấy ngân hàng tạo ra lợi nhuận hiệu quả như thế nào.
Bởi vì nó không bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ VCSH cao, ROA là một con số quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời của một ngân hàng. Điều này trái ngược với lợi nhuận trên VCSH. Do ROA không bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ VCSH cao, nhưng lợi nhuận trên VCSH (ROE) đánh giá thấp sự nguy hiểm của đòn bẩy tài chính, ROA là một con số quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng. Nói cách khác, nợ phải trả không được đề cập trong ROE.
Cohen, Chang và Ledford (1997) đã nghiên cứu lợi nhuận bằng cách sử dụng lợi tức trên tài sản (ROA) mà các nhà phân tích thị trường thường sử dụng ROA như một thước đo hiệu quả tài chính vì nó định lượng cách tài sản ảnh hưởng đến việc tạo thu nhập. Do ROA chủ yếu được sử dụng để xem xét hiệu quả hoạt động và đánh giá thực trạng tài chính của các ngân hàng nên tác giả nghiên cứu này đã lựa chọn sử dụng chỉ số ROA để phản ánh lợi nhuận của các NHTMCP tại Việt Nam. Các nhân tố ảnh hƣởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thƣơng mại Nghiên cứu của Trujillo (2012) cho rằng có hai nhóm chính ảnh hưởng đến các biến lợi nhuận của ngân hàng. Nhóm nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến lợi nhuận là duy nhất đối với mỗi ngân hàng và thường bao gồm các nhân tố như cơ cấu tài 10 sản, chất lượng tài sản, vốn hóa, cơ cấu tài chính, hiệu quả, quy mô và đa dạng hóa doanh thu.
Môi trường kinh tế vĩ mô và các nhân tố chẳng hạn như mức độ tập trung của ngành, nền kinh tế tăng trưởng, lạm phát và lãi suất, được bao gồm trong loại nhân tố quyết định thứ hai. Ngoài việc cho phép các ngân hàng tạo ra nhiều vốn hơn để cho vay nhiều hơn đối với nền kinh tế, lợi nhuận cao hơn là rất đáng chú ý đối với các cơ quan quản lý vì nó đảm bảo tỷ lệ vốn linh hoạt hơn ngay cả trong điều kiện kinh doanh rủi ro. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Guru (2002) cũng cho rằng khả năng sinh lời của NHTM được xác định bởi hai nhân tố: những nhân tố dưới sự kiểm soát của ban quản lý và những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của họ. Các nhân tố quyết định bên trong là những nhân tố mà ban quản lý có thể tác động, trong khi các nhân tố quyết định bên ngoài là những nhân tố mà ban quản lý không thể tác động.
Các nhân tố quyết định bên trong chủ yếu chỉ ra sự khác biệt trong ý nghĩa của các quyết định quản trị và quản lý ngân hàng liên quan đến việc kiểm soát nguồn vốn, việc sử dụng thanh khoản và giám sát vốn, cũng như phân bổ chi phí. Ảnh hưởng của quản lý đến khả năng sinh lời có thể được kiểm tra bằng cách xem xét bảng cân đối kế toán và báo cáo lãi lỗ của các công ty này. Dù đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau và trong các giai đoạn thời kỳ khác nhau, cho thấy khả năng sinh lợi của NHTMCP không chỉ được xác định bởi một nhân tố đơn lẻ mà còn bởi hai nhóm nhân tố chính, bao gồm các nhân tố nội tại của mỗi ngân hàng và tác động của các nhân tố vĩ mô bên ngoài. Đầu tiên, các thành phần trong mỗi ngân hàng đóng vai trò chủ yếu trong việc xác định khả năng sinh lời của NHTMCP.
Điều này bao gồm quản lý rủi ro, quản trị tín dụng, hiệu suất hoạt động, chi phí vận hành và công nghệ thông tin. Thứ hai, các điều kiện kinh tế vĩ mô có tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của NHTMCP. Có thể bao gồm sự thay đổi lãi suất, tình hình tăng trưởng kinh tế và các mối quan tâm chính trị và xã hội. Sự ổn định và thay đổi của những nhân tố này sẽ có ảnh hưởng lớn đến mức độ sinh lời và khả năng hoạt động của ngân hàng.