CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại 1.Khái niệm và đặc trưng của Ngân hàng Thương mại Hệ thống ngân hàng được coi như là huyết mạch của nền kinh tế. Theo quan sát của giới sử học thì ngân hàng đầu tiên xuất hiện cách đây 2000 năm. Đến nay, hệ thống ngân hàng đã phát triển và bao phủ toàn thế giới và là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế toàn cầu. Vậy Ngân hàng là gì và đặc trưng của nó ra sao? Theo Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khố X nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997 thì: “Ngân hàng Thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.
Luật này cũng định nghĩa: Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Theo Pháp lệnh ngân hàng ngày 23 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Hiện nay, trên thế giới tồn tại rất nhiều quan niệm về Ngân hàng thương mại, chẳng hạn như: Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong nghành dịch vụ tài chính Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.Rose, tác giả cuốn Quản trị Ngân hàng Thương mại: Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Mỗi quốc gia có một cách định nghĩa riêng về Ngân hàng thương mại nhưng tựu chung lại Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, Ngân hàng Thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.Chức năng và vai trò của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường khi mà nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng ngày càng lớn. Các chức năng cơ bản của Ngân hàng thương mại gồm: 1. Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.
Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay, và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người cho vay. Chức năng trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu…Ngân hàng thương mại có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty… 1.Chức năng trung gian thanh toán. Với chức năng này, Ngân hàng thương mại đóng vai trị là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như: 5 trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản tiền khác theo lệnh của họ. Các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tuỳ theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, đảm bào an toàn thanh toán. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương mại. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như một yêu cầu chính cho sự tồn tại và của mình, các ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ…Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.Một số hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động huy động vốn Đóng vai trị là một trung gian tín dụng quan trọng trong nền kinh tế, để cho người thiếu vốn vay thì ngồi phần vốn tự có của mình ngân hàng thương mại phải 6 huy động một lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, các cá nhân. Huy động vốn là hoạt động then chốt trong việc hình thành tổng nguồn vốn của ngân hàng.
Nó chính là hoạt động đầu vào cơ bản quyết định hạn mức dư nợ (đầu ra) của ngân hàng. Ngân hàng thương mại thường sử dụng các hình thức huy động vốn như sau: - Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước - Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức Tín dụng nước ngoài - Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước - Sử dụng các hình thức huy động vốn khác của Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động tín dụng Đây là hoạt động đầu ra trọng yếu và cũng là hoạt động mang lại nguồn doanh thu lớn nhất của các ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước như bao thanh toán tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay thấu chi, và cho vay theo hạn mức tín dụng, hạn mức tín dụng dự phòng…Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Hoạt động cho vay Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại được phân loại căn cứ vào mục đích, tính chất khoản vay: - Căn cứ vào thời gian cho vay: + Cho vay ngắn hạn: là khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống + Cho vay trung hạn: là khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng 7 + Cho vay dài hạn: là khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và dịch vụ đời sống - Căn cứ vào tính chất đảm bảo của khoản vay: + Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là loại cho vay mà khách hàng phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba làm bảo đảm + Cho vay tín chấp: là loại cho vay khơng có tài sản đảm bảo, khách hàng được cho vay dựa vào sự tín nhiệm của ngân hàng Bảo lãnh Ngân hàng thương mại được bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương mại. Chiết khấu Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các giâý tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.
Cho thuê tài chính Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng.Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính. Bao thanh toán.