CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE HIỆU QUA KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG NIÊM YÉT TRÊN THỊ TRUONG CHUNG KHOAN VIỆT NAM 1. CO SO LY LUAN VE HIEU QUA KINH DOANH TAI CAC DOANH NGHIEP XAY DUNG NIEM YET TREN THI TRUONG CHUNG KHOAN VIET NAM 1. Tổng quan về các doanh nghiệp xây dựng 1. Khái niệm doanh nghiệp xây dựng Có nhiều định nghĩa về doanh nghiệp, theo Khoản 10 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ồn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Học viện tài chính: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lợi nhuận”. Dựa trên khái niệm về doanh nghiệp, Phan Hồng Mai (2012) đưa ra khái niệm về doanh nghiệp xây dựng: “ Doanh nghiệp xây dựng là tổ chức kinh tế, hoạt động trong ngành xây dựng với những mục tiêu nhất định, thỏa mãn điều kiện của doanh nghiệp (căn cứ vào luật pháp của từng quốc gia như có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật)”. Như vậy, có thể hiểu doanh nghiệp xây dựng (DNXD) là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích tạo lập, xây dựng các công trình đáp ứng nhu cầu thị trường. Hiện nay, các công ty thường hoạt động theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực đề đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Do đó, một công ty được coi là công ty xây dựng nếu thu 9 nhập từ hoạt động xây dựng chiếm phan lớn trong thu nhập ròng từ việc bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của công ty. Thu nhập từ hoạt động xây dựng chiếm hơn 50% tổng doanh thu thuần của công ty. Phân loại doanh nghiệp xây dựng - Thứ nhất, xét theo quy mô doanh nghiệp có thé chia thành: + Doanh nghiệp xây dựng quy mô lớn; + Doanh nghiệp xây dựng quy mô vừa; + Doanh nghiệp xây dựng quy mô nhỏ; Có sự khác biệt nhất định trong các tiêu chí phân biệt giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mỗi quốc gia. Nhưng điểm chung của chúng là các doanh nghiệp xây dựng lớn có khả năng tích lũy vốn cao, khả năng dau tư thiết bị xây dựng mới nhất, khả năng thu hút lực lượng lao động tay nghề cao, khả năng tuyển dụng lao động thường xuyên.
Nó có năng lực xây dựng cao và có thé chiếm vị trí tổng thầu trong lĩnh vực xây dựng. Mặt khác, các doanh nghiệp xây dựng quy mô vừa và nhỏ thường có nguồn nhân lực hạn chế về năng lực thi công và thiết bị, thường phải làm thầu phụ cho các tổng thầu.1: Phân loại quy mô doanh nghiệp Tiêu chí DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa DN lớn : ¬ Dưới 3 tỷ Từ 3-20 tỷ Từ 20-100tỷ | Từ trên 100 tỷ Tông nguôn vôn đồng đồng đồng l Dưới 10 Từ 10-100 Từ 100-200 Từ trên 200 Tông lao động : ' người người người người (Nguồn: Quy định tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018) 10 - Thứ hai, xét về năng lực và vai trò trong quá trình thực hiện công trình xây dựng có thé chia thành: + Doanh nghiệp xây dựng là tổng thầu xây dựng; + Doanh nghiệp xây dựng là nhà thầu phụ. Các doanh nghiệp lớn thường đảm nhận vị trí là tổng thầu xây dựng, có năng lực thi công mạnh và việc đảm nhận vị trí này thường đem lại tỷ suất lợi nhuận tốt hơn các nhà thầu phụ. Mặc dù vậy nhưng các DN lớn là tổng thầu thường không tự mình thực hiện toàn bộ các phần hành xây dựng mà thường thuê lại các nhà thầu phụ là các DN vừa và nhỏ đề thực hiện các phần hành công việc.
- Thứ ba, có thé phân loại ngành xây dựng theo công trình dự án mà doanh nghiệp thi công xây dựng: Doanh nghiệp xây dựng công trình dân dụng; + Doanh nghiệp xây dựng công trình công nghiệp; Doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông; Doanh nghiệp xây dựng công trình thủy lợi; Doanh nghiệp xây dựng công trình ha tang kỹ thuật; Doanh nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng. Trong mỗi nhóm DN trên có thé đi sâu vào từng loại hẹp về công trình xây dựng dé phân loại về DNXD. Chẳng hạn, trong các doanh nghiệp xây dựng công trình công nghiệp, theo loại công trình công nghiệp cụ thé có thé chỉ tiết thành các loại doanh nghiệp như: DNXD công trình khai thác dầu, khí; DNXD công trình hóa chất, hóa dầu; DNXD công trình kho xăng, dầu; DNXD công trình cơ khí. Đặc điểm của các doanh nghiệp xây dựng Các DNXD thường mang đặc điểm chung là có một lượng lớn lao động, trong đó có lao động thủ công.
Bên cạnh đó, hoạt động xây dựng có đặc thù là có nhiều rủi ro với 11 người lao động, do vậy, cần chú trọng vào công tác đảm bảo an toàn lao động cho người lao động. Mặt bằng thi công của công ty có thé phân tán nên thiết bị và con người có thé phải điều động giữa các hạng mục công trình, làm tăng chi phí vận chuyền. Vi vậy, việc cung cấp nguồn nhân lực và thiết bị thi công hợp lý trong hoạt động xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm giá thành công trình xây dựng. Thời gian quay vòng vốn thường dài: Việc thi công xây dựng công trình thường mất nhiều thời gian.
Thêm vào đó, sau khi đưa công trình vào hoạt động, chưa thanh toán một phan giá trị hợp đồng thì công trình hết thời han bảo hành. Vì vậy, thời gian thu hồi vốn của các DN xây dựng thường dài và đòi hỏi phải quản lý tốt công tác thu hồi nợ. Ảnh hưởng của đặc điểm ngành đến hiệu qua kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng Ty suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thường thấp: Các công ty có thé theo đuổi một trong hai chiến lược cạnh tranh cơ bản là: cạnh tranh bằng dẫn đầu về chỉ phí thấp hoặc cạnh tranh thông qua khác biệt hóa, nhưng điều này sẽ khó khăn do sản phẩm xây dựng là sản phẩm có tính tiêu chuẩn hóa cao, vì vậy rất khó để tạo ra sự khác biệt hóa một cách rõ ràng. Do đó, phương thức cạnh tranh điên hình trong ngành là cạnh tranh bằng dẫn đầu về chỉ phí thấp thông qua giá chào bán thấp, dẫn tới tỷ suất lợi nhuận sau thuế của doanh thu thường thấp.
Đề bù đắp cho điểm yếu này, các công ty xây dựng phải cố gắng đảm nhận nhiều dự án xây dựng và hướng đến lợi nhuận và vòng quay tài sản cao và sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Thời gian luân chuyển vốn dài và tốc độ luân chuyền vốn chậm: Do đặc thù ngành xây dựng công trình thường, công việc xây dựng thường được tiến hành trong thời gian dài nên việc hoàn thành công trình diễn ra những thời điểm khác nhau và dấu hiệu khác nhau. Tốc độ quay vòng vốn trong ngành xây dựng rất lâu. 12 Cấu trúc nguồn vốn thường dựa nhiều vào vay nợ: Dé bù đắp cho những hạn chế là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thấp, các DNXD có thể tìm cách tận dụng đòn bây tài chính thông qua các chính sách vay nợ hợp lý và thận trọng đê tăng doanh thu, gia tăng tỷ suất lợi nhuận.
Do đó, đặc trưng là ngành xây dựng nói chung đang phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nợ phải trả. Chỉ phí và giá thành sản phẩm rất nhiều loại, phức tạp và mang tính cá nhân cao nên trong quá trình thi công hoàn thiện có nhiều công đoạn, việc kiểm soát chỉ phí và định giá dễ dàng hơn. Đối với các sản phẩm xây dựng tương đối phức tạp. Hiệu suất hàng năm là theo mùa, với thu nhập trong ngành xây dựng khác nhau đáng kể giữa mùa mưa và mùa khô.
Khi mưa lũ xảy ra, ngành xây dựng thường xuyên phải tạm dừng hoạt động xây dựng dẫn đến doanh thu bị sụt giảm. Mặt khác, trong mùa khô, khi hoạt động xây dựng diễn ra sôi nổi, doanh thu thường cao hơn, ảnh hưởng đến việc phân bồ nhân lực, thiết bị thi công và sắp xếp vốn trong hai mùa cao điểm và thấp điêm. HIỆU QUÁ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1. Khái niệm và phân loại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng 1.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế hiện đang được nhìn nhận khác đi. Các nhà nghiên cứu ở các góc độ và chuyên ngành khác nhau có những quan điềm khác nhau về phạm trù này. Theo Paul A Samuemlson đã viết trong cuốn kinh tế học nói rằng: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nên kinh tế dé thỏa mãn nhu câu, mong muốn của con người”. Theo cách tiếp cận này, hai tính năng của thé loại này đã được xác định.
Hiệu quả là việc sử dụng tối ưu các nguồn lực và các mục tiêu hoạt động. 13 Tuy nhiên, cách tiếp cận này vẫn chưa cung cấp một cách thức đề đánh giá hiệu quả nói chung và hoạt động của công ty nói riêng. Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Anh Adam Smith thì cho rằng: “ Hiệu quả - Kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Với quan điểm này, hiệu quả kinh doanh chỉ được quyết định bởi sản phẩm có bán được hay không.
Quan điểm của Adam Smith không xác định rõ hiệu quả và kết quả kinh doanh khi chưa xem xét đến các yếu tố chỉ phí dé đạt được hiệu quả kinh doanh. Nên phân biệt rõ ràng giữa hiệu quả và kết quả kinh doanh. Kết quả kinh doanh chi là biểu hiện hình thức của hoạt động kinh tế, còn kết quả đó như thế nào và ở giá cả như thế nào mới là điều mà các nhà kinh tế quan tâm, nó thể hiện chất lượng của kết quả kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh tế phải là độ lớn kinh tế mà kết quả thu được bằng chi phí phát sinh.
Cụ thé, kết quả kinh doanh là những gì một công ty làm được sau một khoảng thời gian nhất định, được lượng hóa bằng các chỉ tiêu như sản lượng tiêu thụ, thị phần, v., còn kết quả phản ánh quá trình thực hiện kinh doanh và được tính bằng tỷ lệ giữa kết quả và chi phí dé đạt được kết quả đó.