chương 1 tác giả hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích những công trình nghiên cứu trước có liên quan đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB ở các đơn vị thuộc lĩnh vực công trong và ngoài nước. Qua đó, tác giả xác định lỗ hổng cần nghiên cứu và phát triển định hướng nghiên cứu cho luận văn này.1 Tổng quan các nghiên cứu trước Nghiên cứu nước ngoài: Một, tác giả O’Leary, Iselin và Sharma, 2006 với đề tài: “Ảnh hưởng của yếu tố kiểm soát nội bộ đối với đánh giá của kiểm toán viên về KSNB” và đề tài : “Phát triển mô hình tiêu chuẩn cho đánh giá hệ thống KSNB” đăng trên School of accountancy, Queensland University of technology , Brisbane, Australia. Nghiên cứu này phát triển một mô hình đánh giá kiểm soát nội bộ ICE– mô hình này đã giải quyết được những hạn chế được ghi nhận trong những nghiên cứu trước. Mẫu được chọn lọc từ 94 kiểm toán viên từ 5 công ty kiểm toán khác nhau đánh giá cấu trúc của kiểm soát nội bộ sử dụng mô hình ICE.
Kết quả nghiên cứu đã giúp tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu có 3 thành phần cơ bản: Môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin, thủ tục kiểm soát gồm 7 biến quan sát. Nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, thống kê mô tả ý kiến của kiểm toán viên. Các khoản mục được kiểm toán viên sử dụng để đánh giá hệ thống KSNB bao gồm: - Triết lý của người lãnh đạo. - Cơ cấu tổ chức - Phân công và trách nhiệm - Nguồn nhân lực - Ủy ban kiểm toán.
- Công nghệ thông tin. - Kiểm toán nội bộ. 9 Hai, tác giả Gamage và cộng sự, năm 2014 với đề tài :” Khung nghiên cứu đề xuất: Hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Thương mại quốc doanh ở Sri Lanka” được đăng trên tạp chí nghiên cứu khoa học và công sáng tạo quốc tế. Động lực của nghiên cứu là đánh giá hoạt động của hệ thống KSNB.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hỗ trợ cho các ngân hàng nhà nước bảo vệ tài sản, phòng ngừa và phát hiện gian lận, sai sót bất thường. Nghiên cứu khảo sát với 2 ngân hàng nhà nước lớn nhất với 64 chi nhánh khổng lồ của ngành ngân hàng. Nghiên cứu về hệ thống KSNB dựa trên khuôn khổ của báo cáo COSO 2002 với mục tiêu nghiên cứu là kiểm tra cơ cấu và tính chất của hệ thống KSNB, xác định mối quan hệ giữa các thành phần KSNB và tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ngân hàng thuộc khu vực chính phủ và xây dựng một hệ thống KSNB gồm các thành phần: môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động giám sát, thông tin và truyền thông. Trong đó, tác giả tổng hợp 4 mô hình nghiên cứu thực nghiệm về tính hiệu quả của hệ thống KSNB từ nhiều nghiên cứu khác: Đây là một số nghiên cứu tiêu biểu: 1.
Nghiên cứu của tác giả Fadzil, Haron, Janta, 2005 đã thực hiện một nghiên cứu để xác định liệu hoạt động kiểm toán nội bộ tại các công ty niêm yết ở Malaysia có tuân thủ theo các tiêu chuẩn SPPIA (tiêu chuẩn thực hành chuyên nghiệp của kiểm toán viên nội bộ) hay không? Và xác định liệu rằng việc tuân thủ SPPIA sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống KSNB của những công ty này hay không. Nghiên cứu đánh giá kiểm toán nội bộ là các biến độc lập và chất lượng của hệ thống KSNB là biến phụ thuộc. Chất lượng của hệ thống KSNB được đo lường bằng 5 thành phần chính của nó theo khuôn khổ báo cáo COSO. Kết quả nghiên cứu đưa ra: - Việc quản lý bộ phận kiểm toán nội bộ với trình độ chuyên môn chuyên nghiệp sẽ ảnh hưởng đến khía cạnh giám sát của HTKSNB.
- Phạm vi thực hiện công việc của kiểm toán viên nội bộ ảnh hưởng đến khía cạnh thông tin và truyền thông của HTKSNB. 10 - Việc quản lý bộ phận kiểm toán nội bộ, hoạt động, chương trình, báo cáo kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến khía cạnh đánh giá rủi ro của HTKSNB. - Hoạt động kiểm toán và báo cáo kiểm toán ảnh hưởng đến khía cạnh hoạt động kiểm soát.1: Mô hình nghiên cứu về chất lượng của hệ thống KSNB (Nguồn: Mô hình nghiên cứu Fadzil, Haron, & Jantan (2005)) 2. Nghiên cứu Mawanda, 2008 với đề tài: “Ảnh hưởng của hệ thống KSNB vào hiệu quả tài chính tại các đơn vị giáo dục tại Uganda”.
Nghiên cứu đã kiểm tra ảnh hưởng của hệ thống KSNB đối với hiệu suất hoạt động tài chính trong một tổ chức giáo dục đại học tại Uganda. Cách tiếp cận yếu tố KSNB bao gồm: môi trường kiểm soát, kiểm toán nội bộ, các hoạt động kiểm soát. Hiệu suất hoạt động tài chính được đo lường bằng các nhân tố như: Tính thanh khoản, trách nhiệm báo cáo và giải trình. Nghiên cứu thiết lập mối quan hệ giữa KSNB và hệ thống hoạt động tài chính trong lĩnh vực giáo dục, đưa ra 3 biến trung gian: Bộ giáo dục, chính sách của chính phủ, hội đồng giáo dục đại học.
Kết quả nghiên cứu đã thiết lập một mối quan hệ đáng kể giữa KSNB và hoạt động tài chính của các tổ chức thuộc lĩnh vực giáo dục. Mối quan hệ được tác giả thể hiện ở hình dưới 11 Hình 1.2 Mô hình các nhân tố KSNB ảnh hưởng hoạt động tài chính Nguồn: Mô hình nghiên cứu của Mawanda (2008) 3. Nghiên cứu của tác giả Angella Amudo và Eno L. Inanga, 2009 với đề tài “Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ: nghiên cứu tại Uganda năm 2009”, nghiên cứu này khảo sát dữ liệu từ các nước thành viên khu vực RMCs của nhóm ngân hàng phát triển Châu Phi sau đó đề xuất một mô hình khái niệm dùng để đánh giá các hệ thống KSNB trong các dự án khu vực Nhà nước tại Uganda do Ngân hàng phát triển Châu Phi bảo trợ.
Mô hình thực nghiệm được tác giả dựa vào khuôn khổ báo cáo COSO và COBIT. Nghiên cứu có 6 biến độc lập bao gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, giám sát, công nghệ thông tin. - Biến điều tiết: Mối quan hệ cộng tác, ủy quyền. - Biến phụ thuộc: Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra nếu thiếu một trong các thành phần của hệ thống KSNB thì sẽ dẫn đến hệ thống KSNB cũng không hoạt động hữu hiệu. 12 Tuy nhiên, nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp quan sát, phân tích tài liệu, chưa được nghiên cứu định lượng để có thể đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến biến phụ thuộc bằng con số thống kê. Giới hạn nghiên cứu đề cập đến kết quả nghiên cứu chỉ mới khảo sát tại các dự án trong khu vực công tại khu vực Uganda. Kết quả nghiên cứu sẽ thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, từng địa phương.3: Mô hình nghiên cứu đánh giá HTKSNB tại Uganda Nguồn :Mô hình của Amudo, Angella, (2009) 4.
Trong năm 2011, cùng một mô hình cũng được đề cập ở nghiên cứu của Angella & Eno, đã được 2 nhà nghiên cứu Sultana và Haque phát triển trong đề tài : “Evaluation of Internal control structure : Evidence from Six Listed banks in 13 Bangladesh.” Tạm dịch :” Đánh giá cấu trúc của hệ thống KSNB : bằng chứng tại sáu ngân hàng niêm yết tại Bangladesh “. Nghiên cứu này phát triển một mô hình khái niệm trong việc đánh giá cấu trúc KSNB với mô hình nghiên cứu tương tự như Angella & Eno tuy nhiên nghiên cứu này loại bỏ nhân tố công nghệ thông tin. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình này có ý nghĩa khi các biến độc lập có mối quan hệ với mục tiêu kiểm soát của đơn vị. Các thành phần trong HTKSNB hoạt động tốt sẽ đảm bảo hợp lý mục tiêu kiểm soát, đảm bảo cho sự hữu hiệu của hệ thống KSNB.3 Mô hình các đánh giá cấu trúc của hệ thống KSNB (Nguồn: Mô hình Sultana & Haque, (2011)) Ba, tác giả Oguda Ndege Joseph, Odhiambo Albert và Prof John Byaruhanga, 2015 với đề tài :“Ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận tại Kho bạc Nhà nước ở Quận Kakamega” đăng tại International journal of business and management Invention.
Nghiên cứu này có mục tiêu là xác 14 định hiệu quả của hệ thống KSNB về phòng ngừa và phát hiện gian lận trong Kho bạc nhà nước. Mẫu nghiên cứu được chọn là các nhân viên kho bạc cao cấp và những lãnh đạo đứng đầu của Kho bạc tại Quận Kakamega. Nghiên cứu đặt ra các vấn đề về sự an toàn về tài sản của nhà đầu tư và các bên liên quan. Theo báo cáo của Chính phủ liên bang Hoa Kỳ và kho bạc nhà nước hàng loạt những gian lận được phát hiện là do Chính phủ chưa xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu.
Mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất như sau Hình 1.5: Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống KSNB vào việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận Nguồn: (Joseph, Albert, & Byaruhanga, 2015) Nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận các thành phần theo hướng dẫn báo cáo COSO (2011) gồm 5 thành phần: môi trường kiểm soát, quản lý rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động giám sát. Nhận diện, ngăn ngừa và phát hiện gian lận rủi ro đo lường qua các biến: trách nhiệm giải trình của quỹ, sự hiệu quả và hiệu suất của hoạt động, tính kinh tế trong dự án và chương trình thực hiện. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cả 5 thành phần của hệ thống KSNB có ảnh hưởng đến việc phát hiện gian lận và sai sót nên được áp dụng trong kho bạc nhà nước và các tổ chức công khác. 15 Bốn, tác giả Afiah & Azwari, 2015 với tên đề tài : “ảnh hưởng của việc thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ công vào chất lượng báo cáo tài chính, việc quản trị tốt của các đơn vị nhà nước tại địa phương.” Nghiên cứu đưa ra 2 thành phần của biến phụ thuộc là biến chất lượng báo cáo tài chính (được đo lường bằng 4 biến quan sát : độ tin cậy, tính thích hợp, so sánh được, có thể kiểm chứng) và biến quản trị tốt (được đo lường bằng 3 biến quan sát : tính chính trực, sự tham gia, tính giải trình).
Biến độc lập là hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm 5 thành phần : môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng phần mềm phân tích dữ liệu AMOS.