Chương 1 trình bày tổng quan về lý do nghiên cứu, mục tiêu, ý nghĩa và phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó tác giả cũng tổng quan các đề tài nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến luận văn, xác định khe hổng nghiên cứu làm cơ sở cho định hướng nghiên cứu ở các Chương tiếp theo. 13 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung của Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm và thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKSNB hướng đến QTRR. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của đề tài.
Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 2. Lịch sử hình thành và phát triển của HTKSNB Lịch sử hình thành và phát triển của HTKSNB trên thế giời trải qua nhiều giai đoạn từ giai đoạn sơ khai, hình thành, phát triển đến giai đoạn hiện đại. Giai đoạn sơ khai Trong cuộc cách mạng công nghiệp các công ty có nhiều nhu cầu về vốn để phát triển từ đó dẫn đến nhu cầu về quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn từ thuật ngữ KSNB bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này. Năm 1929, KSNB được đề cập chính thức trong một công bố của Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ, KSNB được hiểu đơn giản là một công cụ bảo vệ tiền và các tài sản khác, đồng thời thúc đẩy nâng cao hoạt động và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên (Committee of Sponsoring Organization, 2004).
Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa về KSNB “. là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”. Giai đoạn hình thành Năm 1949, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB “KSNB, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”. Trong báo cáo này, KSNB được định nghĩa là: “cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”.
Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm soát (CAP) thuộc AICPA ban hành báo cáo thủ tục kiểm toán 29 “Phạm vi xem xét KSNB của kiểm toán viên độc lập” đã phân biệt KSNB về kế toán và KSNB về quản lý. 14 Năm 1972, CAP tiếp tục ban hành thủ tục kiểm soát 54 “Tìm hiểu và đánh giá KSNB” trong đó đưa ra bốn thủ tục kiểm soát kế toán, đó là đảm bảo nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi đã được phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê. Năm 1972, CAP xét duyệt lại thủ tục kiểm toán 54 và đưa ra định nghĩa về kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý. Như vậy, trong suốt thời kỳ trên, khái niệm KSNB đã không ngừng được mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán.
Tuy nhiên, trước khi báo cáo COSO 1992 ra đời , KSNB vẫn chỉ dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính (Bộ môn kiểm toán, Khoa Kế toán – Kiểm toán Trường Đại học Kinh tế TP. Giai đoạn phát triển Vào những năm 1970 đến 1980, nền kinh tế Hoa Kỳ cũng như các quốc gia khác trên thế giới phát triển mạnh mẽ làm cho số lượng các công ty tăng nhanh chóng, cùng với đó là sự gian lận cũng ngày càng tăng gây tổn thất lớn cho nền kinh tế. Năm 1977, Quốc hội Mỹ thông qua Luật về chống hối lộ nước ngoài. Sau đó, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình.
Sự tranh luận liên quan đến yêu cầu báo cáo về KSNB của công ty cho công chúng đã đưa đến thành lập Ủy ban COSO vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI) và Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA). Năm 1992, Báo cáo COSO được ban hành. Đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Báo cáo COSO đưa ra 5 bộ phận cấu thành của HTKSNB là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có tính hệ thống. Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho các lĩnh vực hoạt động và tuân thủ (Bộ môn kiểm toán, Khoa Kế toán – Kiểm toán Trường Đại học Kinh tế TP. 15 Giai đoạn hiện đại Báo cáo COSO 1992 tuy chưa thật sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập được cơ sở lý thuyết cơ bản về KSNB tạo tiền đề cho hàng loạt nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: - Phát triển về phía QTRR Năm 2001, dựa trên báo cáo COSO 1992, COSO tiếp tục triển khai nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro DN (EMR) trên cơ sở của báo cáo COSO 1992. ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận: môi trường kiểm soát, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện tiềm tàng, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát.
Đến năm 2004, ERM đã được chính thức ban hành, theo đó ERM không thay thế cho báo cáo COSO 1992 mà là “cánh tay nối dài” của báo cáo này. - Phát triển cho DN nhỏ Năm 2006, Ủy ban COSO nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “KSNB đối với BCTC – Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” (gọi tắt là COSO Guidance 2006). - Phát triển theo hướng công nghệ thông tin Năm 1996, hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA) ban hành bản tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan” (CoBIT). CoBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trường tin học (CIS) bao gồm những lĩnh vực hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát.
- Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá HTKSNB, bao gồm SAS 78 (1995), SAS 94 (2001), ISA 315, IAS 265 - Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA) định nghĩa các mục tiêu KSNB bao gồm: Độ tin cậy và tính trung thực của thông tin; Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định; Bảo vệ tài sản; Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực; Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động. 16 - Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực đã có những nghiên cứu chi tiết về KSNB trong ngành nghề của mình. Báo cáo Basel (1998) đã đưa ra công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng. Báo cáo trên đã định nghĩa KSNB: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý cao cấp và nhân viên.
Nó không chỉ là một thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thời điểm cụ thể mà là một hoạt động liên tục ở mọi cấp trong ngân hàng. Hội đồng quản trị và nhà quản lý cấp cao có trách nhiệm thiết lập một nền văn hóa thích hợp để trợ giúp cho quá trình kiểm soát nội bộ cũng như liên tục giám sát sự hữu hiệu của nó, tuy nhiên mỗi cá nhân trong tổ chức phải tham gia quá trình này. Các mục tiêu chính sách của KSNB được phân loại như sau: Sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động. Sự tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị.
Sự tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan” Theo công bố này, KSNB bao gồm các bộ phận sau: Sự giám sát của nhà quản lý và văn hóa kiểm soát. Ghi nhận và đánh giá rủi ro. Các hoạt động kiểm soát và phân chia trách nhiệm. Thông tin và truyền thông.
Giám sát và điều chỉnh sai sót. Báo cáo này không đưa ra những lý luận mới mà chỉ vận dụng các lý luận cơ bản của COSO vào lĩnh vực ngân hàng (Bộ môn kiểm toán, Khoa Kế toán – Kiểm toán Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, 2012). - Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB COSO cũng đưa ra dự thảo Hướng dẫn về giám sát HTKSNB (Exposure Draft, COSO 2008) dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm giúp các tổ chức tự giám sát chất lượng của HTKSNB. Hướng dẫn này (COSO Guidance 2008) gồm 3 phần: Hướng dẫn, Ứng dụng và Thí dụ.
Năm 2009, phần 1 – Hướng dẫn đã chính thức được ban hành. Cần lưu ý rằng COSO Guidance 2008 không nhằm thay thế COSO Guidance 2006 mà bổ sung thêm và tập trung cho việc nâng cao hiệu quả giám sát đối với KSNB trong đơn vị. 17 Năm 2004, COSO đã chính thức ban hành Khuôn khổ hợp nhất về QTRR trong DN (ERM). Mục đích của ERM không phải chỉ nhằm giảm thiểu rủi ro mà còn giúp nhà quản trị rủi ro toàn doanh nghiệp một cách hữu hiệu hơn.
Nói cách khác, ERM giúp nhà quản lý và Hội đồng quản trị của công ty đưa ra quyết định tốt hơn trên cơ sở hiểu biết đầy đủ hơn về các rủi ro có liên quan (Committee of Sponsoring Organization, 2004). - Báo cáo COSO 2013 Tháng 5 năm 2013, COSO ban hành một bản cập nhật KSNB để phản ánh nhưng thay đổi trong thế giới kinh doanh trong vòng 20 năm kể từ khi ban hành khuôn khổ ban đầu.