Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư và xây dựng tại Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư và xây dựng tại Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Thanh Hóa. CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ DỰ ÁN 1. Cơ sở lý luận về dự án đầu tư 1.
Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư 1. Khái niệm dự án đầu tư Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì “Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực té mới có phương pháp trên CƠ Sở các nguồn lực nhất định”. Còn ở Việt Nam, có một số khái niệm Dự án đầu tư được trình bày như sau: Theo Quốc hội (2019). Luật xây dựng, số 50/2019/QH13.
Việt Nam: “Dự án dau tu xây dựng là tập hop các dé xuất có liên quan đến việc sử dung vốn dé tiễn hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chỉ phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật dau tư xây dựng” Theo Quốc hội (2019). Luật đầu tư, số 67/2019/QH13. Việt Nam “Dự án dau tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dai hạn dé tiến hành các hoạt động dau tu kinh doanh trên địa bàn cụ thé, trong khoảng thời gian xác định”.
Trong cuốn Thuật ngữ Đầu tư và Quản lý dự án của Khoa đầu tư, trường Đại học Kinh tế Quốc dân xuất ban năm 2019 do PGS.TS Phạm Văn Hùng làm chủ biên có dinhnghia về “Dự án đầu tư” như sau: “ Tập hợp đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn dé tiễn hành các hoạt động dau tư kinh doanh trên địa bàn cụ thé, trong khoảng thời gian xác định. Dự án dau tư là tong thể các hoạt động và các chỉ phí can thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.” Như vậy, khái niệm về dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: Xét về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chỉ tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhăm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dai. Xét trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chỉ tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tai trợ.
Xét theo góc độ này dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án). Xét về mặt nội dung: dự án dau tư là tổng thé các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Do vậy, dự án đầu tư phải nham việc sử dụng có hiệu qua các yêu tô đầu vào dé thu được dau ra phù hợp với những mục tiêu cụ thé. Đầu vào là lao động, nguyên vật liệu, đất đai, tiền vốn.
Đầu ra là các sản phẩm dịch vụ hoặc là sự giảm bớt đầu vào. Sử dụng đầu vào được hiểu là sử dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ, biện pháp tô chức quản tri và các luật lệ. Đặc điểm dự án đầu tư Xuất phát từ khái niệm trên, chúng ta thấy được dự án đầu tư có các đặc trưng cơ bản sau: Một là, dự án đầu tư luôn có mục tiêu rõ ràng. Mục tiêu của dự an đóng vai trò định hướng cho dự án.Một dự án thường có 2 cấp mục tiêu là mục tiêu phát triển và mục tiêu trực tiếp.
Mục tiêu phát triển là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện. Mục tiêu phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước của vùng. Mục tiêu trực tiếp là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nguôn lực nhất định va trong khoảng thời gian nhất định. Bat ké là dự án đầu tư bạn xây dựng thuộc lĩnh vực nao, thời gian thực hiện là bao lâu, chi phí ước tính như thế nao,.thi cũng đều phải có mục đích rõ ràng va những mục tiêu cụ thê.
Mục tiêu đầu tư cũng là một trong những nội dung quan trọng được thể hiện trong đề xuất dự án đầu tư nộp kèm với hồ sơ xin quyết định chủ trương đầu tư. Chính vì vậy, dé được xét duyệt dự án, thì người việc chuẩn bị về kinh phí, đội ngũ nguồn nhân lực, chủ đầu tư phải đặt ra những mục tiêu cụ thể phù hợp với tiến trình thực hiện dự án. Hai là, dự án có kết quả xác định: Điều này có thể hiện tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa nhà, một con đường, một dây chuyền sản xuất.Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiệm vụ cần thực hiện.
Mỗi nhiệm vụ lại có kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thé của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án. Ba là, Dự án đầu tư có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là một sự sáng tạo, dự án không kéo dài mãi mãi.
Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyên giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản lý dự án giải tán. Cụ thê hơn: - Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư trong khu kinh tế không quá 70 năm. - - Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư ngoài khu kinh tế không qua 50 năm. Dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế — xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế — xã hội đặc biệt khó khăn hoặc dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm thì thời hạn dài hơn nhưng không quá 70 năm.
Bon la, nguồn lực của dự án: Là các đầu vào về mặt vật chất, tài chính, sức lao động cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Nguồn lực là tiền đề để tạo nên các hoạt động của dự án. Năm là, dự án đầu tư có thể chuyển nhượng: Nhà đầu tư có quyền chuyên nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án đầu tư cho nhà đầu tư khác khi đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 45 Luật đầu tư 2021. Bao gồm: - Không thuộc một trong các trường hợp bị chấm dứt hoạt động; - Đáp ứng điều kiện đầu tư áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoải trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng dự án thuộc ngành, nghề đầu tư có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài; -Tuân thủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về kinh doanh bat động sản trong trường hợp chuyển nhượng dự án gắn với chuyên nhượng quyền sử dụng đất; - Điều kiện quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc theo quy định khác của pháp luật có liên quan (nếu có).
Sáu là, dự án đầu tư có tính bất định và độ rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư thường có độ rủi ro cao. Bay là, dự án có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cung cấp dich vụ trong đầu tu, cơ quan quản ly nhà nước.
Dự án nao cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng từ dự án, các nhà tư van.Nha thầu, các co quan quan lý Nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nha. Tam là, san phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. Kết quả của dự án có tính khác biệt cao, sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại duy nhất.
Phân loại các dự án đầu tư 1. Theo quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật. Cụ thể là: Bang 1.Phén loại dự án đầu tư xây dựng công trình theo quy mô,tính chất, loại công trình chính của dự an | [Psawwmsewem | ——— Ta. Theo mức độ ảnh hưởng đến môi trường hoặc tiềm ân khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm: a) Nhà máy điện hạt nhân; b) Sử dụng đất có yêu cầu chuyên mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc cát bay, chăn sóng, lân biên, bảo vệ môi trường từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ | Không phân biệt 1.