chương 1, tác giả đã khái quát lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu ―Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần trên thị trường chứng khoán Việt Nam‖ làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, khoá luận đưa ra 02 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được giải quyết thông qua 02 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, tác giả trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các nhân tố vĩ mô và tố nội sinh bên trong của 08 NHTMCP Việt Nam theo quý từ quý 1 năm 2015 đến quý 4 năm 2022 có ảnh hưởng đến giá thị trường của cổ phiếu. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp có sự kết hợp giữa định tính và định lượng dựa trên nền tảng kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước đó cùng kết cấu khóa luận bao gồm 05 chương.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết liên quan về cổ phiếu và các nhân tố tác động đến giá thị trường của cổ phiếu làm cơ sở cho việc thiết kế và xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương sau. Đồng thời, sàng lọc các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Khái niệm Căn cứ Khoản 2 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 quy định: "Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành"2. Tại Khoản 1 Điều 121 Luật Doanh nghiệp 2020 giải thích: "Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó"3 Từ cơ sở trên, có thể hiểu cổ phiếu là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu đối với một số cổ phần của doanh nghiệp cổ phần đại chúng phát hành ra nó.
Khi nắm giữ cổ phiếu thì NĐT sẽ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào tỷ trọng cổ phần NĐT nắm giữ mà họ sẽ chia mức độ tác động và quyền lợi ít hay nhiều trong mối quan hệ với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các NĐT, người nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp là chủ sở hữu của doanh nghiệp, trong trường hợp doanh nghiệp phá sản thì tài sản của doanh nghiệp được thanh lý để thanh toán nợ trước thì chủ sở hữu là người cuối cùng được chia tài sản sau khi doanh nghiệp đã thanh toán hết nợ. 2 Quốc hội (2019), Luật số 54/2019/QH14, Luật chứng khoán, ban hành ngày 26/11/2019 3 Quốc hội (2020), Luật số 59/2020/QH14, Luật doanh nghiệp, ban hành ngày 17/06/2020 11 Theo Khoản 1, 2 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2020 thì công ty cổ phần phải có cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và có thể có cổ phiếu ưu đãi.
Tuy nhiên, trong phạm vi của khóa luận này, tác giả sẽ chỉ đề cập đến cổ phiếu thường. Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) quan niệm "Cổ phiếu thường là cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp, người sở hữu cổ phiếu này được gọi là chủ sở hữu có quyền tham gia họp thường niên và bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp trong các cuộc họp đại hội đồng cổ đông, được quyền bầu cử và ứng cử vào các vị trí trong hội đồng quản trị của doanh nghiệp". Như vậy, có thể hiểu rằng cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông) là loại cổ phiếu phổ biến nhất của các công ty cổ phần. Người nắm giữ cổ phiếu hay các cổ đông sở hữu được quyền tự do chuyển nhượng, quyền biểu quyết tại Đại hội cổ đông về các quyết định quan trọng của công ty, nhận cổ tức dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh và giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ.
Trong dài hạn, cổ phiếu phổ thông sẽ có lợi hơn so với các hình thức đầu tư chứng khoán khác. Chình vì thế, nó có độ rủi ro cao nhất, trong trường hợp công ty bị phá sản và phải thanh lý tài sản thì cổ đông phổ thông sẽ là thứ tự sau cùng được trả tiền khi các chủ nợ, trái chủ và cổ đông ưu đãi được thanh toán hết. Các loại giá của cổ phiếu thường Theo Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011), giá cổ phiếu thường có thể được chia thành 4 loại: giá trị danh nghĩa (mệnh giá), giá trị thị trường, giá trị nội tại (giá trị lý thuyết) và giá trị sổ sách (giá trị ghi sổ). Cụ thể: Giá trị danh nghĩa (Face value) Là giá trị ấn định được ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu và chỉ có giá trị danh nghĩa.
Được sử dụng làm giá trị tham chiếu để tính toán một số quyền lợi nhất định của cổ đông, chẳng hạn như quyền biểu quyết và quyền nhận cổ tức. Mệnh giá chỉ có ý nghĩa trong việc ghi sổ kế toán hoặc dùng xác định giá trị doanh nghiệp trong lần đầu huy động vốn. Đối với doanh nghiệp mới thành lập, mệnh giá là số 12 tiền tối thiểu mà doanh nghiệp nhận được cho mỗi cổ phần phát hành. Tại Việt Nam, mệnh giá cổ phiếu được quy định ở mức 10.
Giá trị sổ sách (Book value) Theo Bodie, Kane và Marcus (2014), giá trị sổ sách là một giá trị được xác định dựa trên các số liệu có trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp. Nó phản ánh tình trạng vốn cổ phần của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Tuy nhiên, giá trị sổ sách có thể không phản ánh được chính xác giá trị hiện tại của cổ phiếu trên thị trường. Thay vào đó, nó được xác định dựa theo giá trị lịch sử của tài sản và nợ của doanh nghiệp.
Do đó, giá trị ghi sổ có thể khác biệt so với giá trị thực tế của cổ phiếu trên thị trường tại một thời điểm cụ thể. Như vậy, có thể hiểu giá trị sổ sách của cổ phiếu thường được xác định phụ thuộc vào phương pháp kế toán, không phản ánh sự tăng giá của tài sản theo thời gian và danh tiếng công ty, chỉ thấy được mức độ tăng tăng hay giảm của giá cổ phiếu phổ thông sau một thời gian hoạt động so với vốn góp ban đầu của công ty cổ phần. Nhược điểm lớn của giá trị ghi sổ là không nói lên được tiềm năng phát triển cũng như kì vọng của NĐT đối với công ty trong tương lai, mà chỉ cho biết giá trị tài sản của công ty còn lại là bao nhiêu nếu ngay lập tức công ty rút lui khỏi kinh doanh. Giá trị nội tại (Instrinsic value) Là giá trị cổ phiếu được ước lượng và tính toán dựa theo số liệu về rủi ro và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Do đó, giá trị nội tại chịu ảnh hưởng bởi nguồn số liệu và phương pháp tính toán. Bodie, Kane và Marcus (2014) đã chỉ ra rằng giá trị nội tại cung cấp cơ sở cho các tín hiệu giao dịch trong thị trường. Nếu giá trị nội tại của cổ phiếu thấp hơn giá trị thị trường, điều này cho thấy cổ phiếu đang được định giá quá cao (Overvalued). Trong trường hợp này, NĐT nên xem xét việc bán cổ phiếu, vì có khả năng giá cổ phiếu sẽ điều chỉnh xuống gần với giá trị nội tại của nó.
Ngược lại, nếu giá trị nội tại của cổ phiếu cao hơn giá trị thị trường, đó là tín hiệu 13 cho thấy cổ phiếu đang được định giá thấp (Undervalued). Trong trường hợp này, NĐT có thể xem đây là cơ hội để mua vào cổ phiếu với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng lên gần với giá trị nội tại của nó. Giá trị thị trường (Market value) Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) quan niệm giá trị thị trường là mức giá mà cổ phiếu được giao dịch trên thị trường tại một thời điểm nhất định. Nó có thể khác biệt so với giá trị nội tại của doanh nghiệp tại từng thời điểm giao dịch, phụ thuộc vào sự cân đối giữa nguồn cung và nguồn cầu trên thị trường.
Vì vậy, giá trị thị trường của cổ phiếu tại một thời điểm được xác định bởi sự thỏa thuận giữa người mua và người bán, và giá trị này thường biến động liên tục. Theo Endri (2016), thị giá cổ phiếu phản ánh quyết định, đánh giá của NĐT và kỳ vọng của họ về dòng tiền của công ty. Có hai dạng giá trị thị trường quan trọng, bao gồm giá mở cửa và giá đóng cửa. Cụ thể, giá đóng cửa là giá mà giao dịch cuối cùng được thực hiện trong ngày giao dịch, trong khi giá mở cửa là giá đóng cửa của ngày giao dịch liền kề trước đó.
Trong phạm vi nghiên cứu khóa luận đã trình bày ở chương 1, giá thị trường của cổ phiếu thường là đối tượng nghiên cứu chính vì đây là hình thái giá trị chịu nhiều tác động của các nhân tố ở cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. Theo đó, nhằm đảm bảo sự chính xác của giá trị thị trường phù hợp với phạm vi nghiên cứu về thời gian theo tần suất quý, đề tài sử dụng mức giá đóng cửa của ngày giao dịch cuối cùng trong mỗi quý, tức giá khớp lệnh được thực hiện cuối cùng trong quý, để làm biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu. Các lý thuyết liên quan đến biến động giá 2. Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis) Lý thuyết được phát triển vào những năm 1970 bởi Giáo sư Eugene Fama khi lần đầu tiên được đưa ra trong bài viết ―Efficient Capital Markets: A Review of Theory and Empirical Work‖, là giả thuyết đặt ra rằng thị trường tài chính hoạt 14 động hiệu quả và minh bạch.
Một thị trường mà ông cho rằng tại đó diễn biến giá chứng khoán ở một thời điểm luôn phản ánh tất cả những thông tin sẵn có, đã được công bố về chứng khoán đó tại cùng thời điểm được gọi là thị trường hiệu quả. Chính vì vậy, NĐT không thể kiếm được lợi nhuận từ những thông tin đã công bố đại chúng. Ở đây có thể hiểu rằng, NĐT không thể hành động khôn ngoan hơn thị trường cũng như không thể thắng lại được thị trường. Lý thuyết này gồm có 3 dạng chính: dạng yếu (weak form), dạng bán-mạnh (semi-strong form) và dạng mạnh (strong form).
Giả thuyết dạng yếu: Theo dạng yếu, thị trường được coi là hiệu quả nếu giá chứng khoán đã phản ánh toàn bộ thông tin lịch sử về giá trị chứng khoán. Điều này có nghĩa là không thể dự đoán xu hướng giá trị tương lai của chứng khoán dựa trên thông tin lịch sử.