mở đầu: nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Bố cục của nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: chương này trình bày cơ sở lý thuyết của nghiên cứu khái niệm về động lực làm việc của công chức, người lao động trong ngành Thống kê Cà Mau, các lý thuyết về động lực. Các nghiên cứu trước về động lực, một số nhân tố tác động đến động lực làm việc và cuối cùng là mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp để nghiên cứu: chương này đưa ra quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và kỹ thuật phân tích dữ liệu thống kê. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: chương này trình bày các kết quả thực hiện nghiên cứu bao gồm: mô tả nghiên cứu, kiểm định và đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố từ đó điều chỉnh lại mô hình nghiên cứu, phân tích tương quan Pearson cuối cùng là phân tích hồi quy. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: chương này tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu từ đó đưa ra kết luận và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2, chương này trình bày cơ sở lý thuyết của nghiên cứu, khái niệm về động lực làm việc của công chức, người lao động trong ngành Thống kê Cà Mau, các lý thuyết về động lực.
Các nghiên cứu trước về động lực, một số nhân tố tác động đến động lực làm việc và cuối cùng là mô hình nghiên cứu. Khái niệm về động lực làm việc và công chức hoạt động thống kê 2. Động lực làm việc “Động lực” là năng lượng làm cho máy móc chuyển động; hay là cái thúc đẩy, làm cho phát triển. Vậy động cơ và động lực giống và khác nhau như thế nào? Chúng ta có thể hiểu động cơ là bộ phận quan trọng trong bộ máy giúp cho bộ máy chuyển động, còn động lực chính là nhiên liệu giúp cho động cơ vận hành.
Ví dụ, lý do mỗi người phải đến công sở làm việc hàng tháng thì cần có một số tiền để tiêu dung một việc gì đó; thì “cần có một số tiền” là động cơ còn “tiêu vào việc gì đó” chính là động lực. "Theo Bedeian (1993), động lực chính là sự cố gắng nhiều để đạt được mục tiêu. Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn". "Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004) thì động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”.
Như vậy, có thể hiểu động lực làm việc là: - "Sự khao khát và tự nguyện cho mỗi cá nhân cố gắng phát huy mọi nỗ lực để đạt mục tiêu của cá nhân và tổ chức chính là động lực làm việc và nó được thể hiện qua những công việc mà mỗi công chức, người lao động được giao đảm nhiệm và thái độ của họ trong đơn vị. Mỗi công chức, người lao động với những nhiệm vụ công việc khác nhau có thể có những yếu tố tác động khác nhau để làm việc tốt. Động lực làm việc được gắn với trách nhiệm, nhiệm vụ của một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể." LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Động lực làm việc có thể thay đổi thường xuyên do phụ thuộc vào các nhân tố khách quan trong công việc việc chứ không chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào từng cá nhân. Trong từng thời gian khác nhau động lực làm việc của từng người có thể thay đổi.
- Động lực làm việc thể hiện tinh thần tự giác, trách nhiệm cao là do chính từng công chức, người lao động, họ có tinh thần làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một áp lực nào trong công việc. Khi tinh thần làm việc được chủ động thì kết quả đạt năng suất lao động cao nhất. - Động lực làm việc là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân, dẫn đến hiệu quả năng suất, chất lượng công việc được nâng cao trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng không phải cứ có động lực làm việc là dẫn đến tăng năng suất, hiệu quả công việc cá nhân vì nó còn phụ thuộc vào nhân tố trí tuệ, trình độ, công cụ lao động và nguồn lực để thực hiện công việc.
- Trong thực tiễn, công chức người lao động thiếu động lực làm việc thì vẫn có thể hoàn thành công việc; nhưng chúng ta không thấy được sự gắn bó, nhiệt huyết của họ đối với người dân, doanh nghiệp và đơn vị là không nhiều. Bản thân mỗi công chức chưa thể mang hết tài năng và trí tuệ cống hiến tận tụy cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan và họ chưa là nhân viên quý giá của đơn vị. Để có được động lực làm việc cho đội ngũ công chức người lao động thì phải tìm cách tạo ra động lực tốt hơn. Do đó, tạo động lực làm việc cho công chức, người lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý ảnh hưởng tới người lao động làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức.
Nhằm có được động lực cho đội ngũ công chức, người lao động thì cần phải hiểu được mục tiêu làm việc của họ là gì từ đó tạo động cơ thúc đẩy họ. Động lực làm việc không tự nhiên xuất hiện mà là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sự kết hợp đồng thời các nguồn lực chủ quan của người lao động và nguồn lực khách quan về môi trường sống và làm việc của họ. Công chức Theo khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ Công chức 2008 thì “Công chức là Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà Nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung Ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam Nhà Nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” 2. Hoạt động thống kê "Hoạt động thống kê bao gồm: điều tra thống kê, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin thống kê phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể, do tổ chức thống kê nhà nước tiến hành.
Điều tra thống kê là hình thức tổ chức thu thập thông tin thống kê theo phương án điều tra. Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số, phản ánh qui mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể. Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê nhằm phản ảnh bản chất của lĩnh vực nghiên cứu. Trong thống kê kinh tế - xã hội có nhiều loại hệ thống chỉ tiêu của từng ngành, từng lĩnh vực và hệ thống chỉ tiêu thống kê chung của toàn nền kinh tế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Thực trạng hoạt động công chức ngành thống kê Cà Mau - Chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm ngành thống kê Cà Mau: Cục Thống kê Cà Mau là đơn vị trực thuộc Tổng Cục Thống kê đóng trên địa bàn tỉnh Cà Mau; có trách nhiệm tổ chức thực hiện hoạt động thống kê theo kế hoạch công tác do Tổng Cục Thống kê giao, đồng thời đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê trên địa bàn, phục vụ sự lãnh đạo quản lý điều hành các cấp lãnh đạo, cung cấp số liệu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. - Thực trạng về động lực, tinh thần làm việc của công chức, người lao động ngành thống kê Cà Mau: Công chức trong ngành được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi của Tổng Cục Thống kê, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự ủng hộ, phối hợp của các Sở, Ban, Ngành tỉnh ngày càng chặt chẽ hơn. Công tác Tổ chức ngành tương đối ổn định, trình độ, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm của công chức được nâng lên. Nội bộ đoàn kết, hợp tác, trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, công tác Thi đua - Khen thưởng tiếp tục được phát huy, đã tạo ra động lực tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Đời sống vật chất, tinh thần công chức được quan tâm. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn thường xuyên được bảo dưỡng và trang bị tốt hơn. Tuy nhiên tình trạng làm việc của công chức còn một số hạn chế: Hiệu quả công việc đôi lúc chưa cao, chất lượng công việc của một số công chức chưa được nâng lên. Tinh thần làm việc công chức có lúc chậm, chưa hăng say tích cực, việc phân công trách nhiệm công chức trong toàn ngành có lúc chưa hợp lý hài hòa, chưa phù hợp với năng lực từng cá nhân.
Lãnh chỉ đạo công việc chuyên môn có lúc chưa kịp thời, tổng hợp nhu cầu thông tin thống kê phục vụ chưa đáp ứng được đầy đủ cho người sử dụng thông tin. Cơ hội phát triển của công chức đôi lúc chưa được thuận lợi, chưa quan tâm nhiều. Kinh phí tuy có thay đổi về định mức, cách phân bổ,…nhưng nhìn chung vẫn khó khăn, chưa đảm bảo đầy đủ cho các hoạt động thống kê. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Cơ cấu tổ chức ngành thống kê Cà Mau: Cục Thống kê tỉnh Cà Mau thực hiện mô hình tổ chức theo Quyết định số 212/QĐ-TCTK ngày 02 tháng 4 năm 2014 của Tổng cục Thống kê, với 07 phòng chức năng tại Cục, 09 Chi cục Thống kê cấp huyện.