mở đầu là Thuyết nhu cầu của Maslow (1943), qua các thuyết nghiên cứu: Thuyết nhu cầu McClellands (1956), Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959), Thuyết X và Thuyết Y (1960), Thuyết lập mục tiêu (1960), Thuyết kỳ vọng (1964), Thuyết công bằng (1967), Thuyết nhu cầu ERG của Alderfer bản chất là sắp xếp lại các thứ bậc trong thuyết nhu cầu của Maslow (1969), Thuyết củng cố (1996), Thuyết tự tin (1997),… Mỗi thuyết đều đưa ra những luận cứ khác nhau, nhìn chung các thuyết đều cho thấy có những đặc điểm chung nhất để tạo động lực làm việc cho con người bình thường như: nhu cầu của mỗi cá nhân (đó có thể là nhu cầu về vật chất hoặc nhu cầu về tinh thần), mục tiêu cá nhân, sự phân công công việc rõ ràng, đánh giá kết quả công việc đã thực hiện và xem xét có phần thưởng khuyến khích hay hình phạt tương ứng với kết quả và hiệu quả trong công việc, môi trường làm việc (mối quan hệ với đồng nghiệp, quản lý cấp trên), để có cơ hội thăng tiến. Một cách trực quan có thể phân chia các yếu tố tạo động lực thành hai nhóm cơ bản là nhóm liên quan đến các yếu tố vật chất (lương, thưởng, trợ cấp, giải thưởng cho thành tích xuất sắc) và nhóm liên quan đến các yếu tố phi vật chất (tình trạng công việc, sự ghi nhận và đánh giá của tổ chức, điều kiện làm việc, sự an toàn trong công việc, được ủy quyền của tổ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 chức, trách nhiệm với công việc, xác định mình là một thành phần của tổ chức, quan hệ trong công việc) (Anyim và ctg, 2012). Ta có thể hiểu động lực làm việc như sau: phần động lực đã trình bày ở phần trên đến phần này đi sâu vào từng nhân tố có ảnh hưởng đến động lực làm việc của cá nhân. - Động lực làm việc là sự mong muốn, khát khao và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân đề ra và mục tiêu của tổ chức mong muốn.
- Động lực làm việc được thể hiện rõ thông qua những công việc cụ thể, mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Điều này có nghĩa không có động lực làm việc chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể.
- Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các nhân tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong họ. - Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất.
- Động lực làm việc là nguồn gốc sẽ dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất được nâng cao trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng không phải cứ có động lực làm việc là dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân vì điều đó còn phụ thuộc nhiều vào các nhân tố như: trí tuệ, trình độ, tay nghề của người lao động, các phương tiện, công cụ lao động và nguồn lực để thực hiện công việc. Trong thực tế, người đang làm việc không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành xong công việc; thế nhưng chúng ta không thấy rằng sự gắn bó, nhiệt huyết của họ với cơ quan, đơn vị là không có nhiều. Bản thân họ không thể mang hết tài năng và trí tuệ cống hiến tận tụy cho cơ quan, đơn vị và không khi nào họ là những nhân viên trung thành, là tài nguyên quý giá của cơ quan, đơn vị.
Có được động lực cho người lao động thì phải tìm cách gợi lên niềm đam mê, gắn bó với công việc trong chính cá nhân mỗi người. Do vậy, để tạo nên động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý ảnh hưởng tới người lao động làm cho họ có động lực, hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức. Để có thể tạo ra được động lực cho người lao động thì người quản lý cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì, từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ. Động lực để làm việc không có sẵn mà là sự kết hợp đồng thời của các nguồn lực chủ quan thuộc về phía bản thân người lao động và nguồn lực khách quan thuộc về môi trường sống và làm việc của người lao động.
Như vậy, ta có thể thấy rằng động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì động lực của mỗi con người khác nhau nên nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau để đạt được mục tiêu mang lại trong quản lý. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các quy định làm việc của nhà nước đối với Công chức Theo khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ Công chức 2008 thì “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Theo định nghĩa trên, đặc điểm của một công chức bao gồm: - Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam. - Thứ hai, về chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm: + Công chức phải là người được qua tuyển dụng hoặc bổ nhiệm xếp vào ngạch, chức danh, chức vụ trong tổ chức, đơn vị thuộc cấp Trung ương, cấp Tỉnh, cấp Huyện. Ví dụ: Điều 8 Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định những người là Công chức, trong đó Công chức trong Viện Kiểm sát nhân dân tối cao gồm: Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, vụ, cục, ban và Viện nghiệp vụ thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
+ Công chức phải có đủ trình độ chuyên môn phù hợp với ngạch, chức danh, chức vụ. Các vấn đề liên quan tới bổ nhiệm, tuyển dụng công chức vào các chức danh, chức vụ và bổ nhiệm vào các ngạch công chức quy định cụ thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 ở chương IV – Luật Cán bộ, Công chức năm 2008. Những vấn đề này còn phụ thuộc vào quy định riêng đối với các chức danh, chức vụ khác nhau; cùng một chức danh, chức vụ nhưng thuộc các tổ chức, cơ quan, đơn vị khác nhau; cùng một chức danh, chức vụ thuộc cùng một loại tổ chức, cơ quan, đơn vị nhưng ở các cấp khác nhau. - Thứ ba, về nơi làm việc: Nơi làm việc của Công chức rất đa dạng.
Nếu như cán bộ là những người hoạt động trong các cơ quan của Đảng, cơ quan Nhà nước, các Tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, ở Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố trực thuộc Tỉnh thì Công chức còn làm việc ở cả Cơ quan, Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập.Ví dụ: Khoản 2 Điều 11 Nghị định 06/2010/NĐ - CP quy định Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập như sau: “Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ”. - Thứ tư, về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động mà không hoạt động theo nhiệm kì như cán bộ (Điều 60 – Luật cán bộ, công chức năm 2008). Chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi (Quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 73 – Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014). - Thứ năm, về chế độ lao động: Công chức được tuyển vào biên chế và trả lương từ ngân sách nhà nước (Điều 12 – Luật cán bộ, công chức năm 2008); đối với công chức lãnh đạo cơ quan hành chính, viên chức quản lý của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật hiện hành.
Có thể thấy, động lực làm việc gắn liền với trách nhiệm và quyền lợi của công chức. Để thực hiện công việc đạt hiệu quả thì đòi hỏi tự bản thân mỗi công chức phải nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu chuyên môn, học hỏi từ đồng nghiệp. Hoàn thành tốt công việc là điều kiện để công chức được đánh giá tốt, đề xuất khen thưởng, tạo cơ hội học tập và có nhiều cơ hội thăng tiến hơn. Động lực làm việc của Công chức là Động lực phụng sự công (Public service motivation) Nên bắt đầu bằng động lực làm việc của công chức là động lực phụng sự khu vực công đo đó cần thiết phải nghiên cứu PSM.